Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

Bản án số: 105/2025/HNGĐ-ST

Ngày 05 tháng 12 năm 2025

(V/v: Tranh chấp HNGĐ)

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Kiến

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Mạnh Tưởng và ông Nguyễn Đại Đồng

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân Khu vực 12 - Hà Nội

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Thị Khuyến - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 318/2025/TLST – HNGĐ ngày 14 tháng 10 năm 2025, về việc: Tranh chấp Hôn nhân và gia đình, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2025/QĐXX – ST ngày 12/11/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 72/2025/QĐHPT - ST ngày 27/11/2025 giữa các đương sự:

  • * Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh ngày 11/7/1995 (xin vắng mặt)
  • Nơi ĐKTT: thôn P, xã H, TP .. Số CCCD: [...]
  • * Bị đơn: Anh Phạm Văn A, sinh ngày 12/10/1990 (vắng mặt)
  • Nơi ĐKTT: thôn P, xã H, TP .. Số CCCD: [...]

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn xin ly hôn, bản tự khai và các biên bản làm việc - Nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày: Chị kết hôn với anh Phạm Văn A trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã P, huyện Ứ, TP . (nay là xã H, TP .) ngày 13/02/2014. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng bình thường. Từ năm 2021 thì anh A bắt đầu đi làm ăn xa nhà, đi đâu chị không rõ và từ đó rất ít khi về nhà và không gửi tiền nuôi con. Nhiều lần chị khuyên bảo anh về làm gần nhà nhưng anh vẫn không về. Qua tìm hiểu chị biết anh A đã có quan hệ với người phụ nữ khác nhưng chị vẫn khuyên anh về nhà để vợ chồng đoàn tụ nhưng anh vẫn không về. Trước đây, năm 2024 chị đã làm đơn xin ly hôn đối với anh A1; sau đó, anh A hứa thay đổi nên chị đã rút đơn nhưng sau đó anh vẫn không thay đổi, vẫn không quan tâm gì đến vợ con. Tính đến nay vợ chồng ly thân được hơn một năm, trong thời gian ly thân vợ không không quan tâm, hỏi han đến nhau. Nay, xét thấy hôn nhân không có hạnh phúc, tình cảm vợ chồng không còn nên chị xin ly hôn đối với anh A. Khi làm đơn ly hôn chị cũng đã gọi điện thông báo cho anh A thì anh nói chị muốn ly hôn thì tự làm, anh sẽ không đến Tòa làm việc.

Về con chung: Chị H xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Khánh N, sinh ngày 27/12/2014 và Phạm Hải Đ, sinh ngày 15/3/2017. Từ khi vợ chồng ly thân thì 03 mẹ con chị ở bên nhà ngoại cho đến nay. Ly hôn chị xin được tiếp tục nuôi cả hai con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị H đều xác nhận không có gì nên không yêu cầu xem xét, giải quyết.

* Bị đơn: Anh Phạm Văn A vắng mặt nên không có quan điểm.

* Tại biên bản lấy lời khai bà Hoàng Thị Á là mẹ đẻ anh A trình bày: Anh Phạm Văn A là con trai bà, chị H là vợ anh A, là con dâu bà. Anh A và chị Hòa kết H1 năm 2014. Qúa trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc cho đến năm 2024 thì phát sinh mâu thuẫn do tính cách không hợp nhau, thường xuyên mâu thuẫn. Bà Á cũng thừa nhận việc anh A có quan hệ với người phụ nữ khác, gia đình có khuyên bảo nhiều, anh A đã chấm dứt và nhiều lần xin lỗi chị H nhưng không được. Gia đình đã khuyên bảo anh chị về đoàn tụ nhưng không có kết quả; vợ chồng ly thân từ tháng 6/2024 đến nay. Việc chị H xin ly hôn anh A có biết nhưng do công việc nên anh không đến Tòa làm việc theo giấy triệu tập và các văn bản thông báo của Tòa án. Qua trao đổi với bà thì anh A có quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ để chăm sóc con cái. Nếu chị H vẫn cương quyết ly hôn thì anh đề nghị giải quyết theo pháp luật. Vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Khánh V và cháu Phạm Hải Đ. Từ khi vợ chồng ly thân đến nay các cháu vẫn ở với chị H. Anh A cũng có quan điểm trường hợp nếu phải ly hôn thì anh cũng đồng ý giao cả 02 con chung cho chị H chăm sóc, nuôi dưỡng; việc cấp dưỡng để anh tự nguyên theo khả năng. Bà Á cũng xác nhận việc vợ chồng Hòa A2 không có tài sản và công nợ chung.

* Tại biên bản lấy lời khai: các cháu Phạm Khánh N và cháu Phạm Hải Đ là con chung của anh A2 và chị H đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ nếu bố mẹ ly hôn.

* Tại biên bản xác minh, chính quyền địa phương thôn P và UBND xã H xác nhận: chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn A có đăng ký kết hôn số 04/2014, Quyển số 01/2013, ngày 13/02/2014 tại UBND xã P, huyện Ử, TP . (nay là xã H, TP .). Hiện tại đời sống chung vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, địa phương đã nhiều lần hòa giải nhưng không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân. Chị H và anh A có 02 con chung là cháu Phạm Khánh N, sinh ngày 27/12/2014 và Phạm Hải Đ, sinh ngày 15/3/2017; hiện nay cả hai cháu vẫn đang ở với chị H. Về tài sản, công sức, công nợ của vợ chồng địa phương không nắm bắt được. Căn cứ vào cuộc sống thực tế của vợ chồng đề nghị Tòa giải quyết theo qui định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

- Chị Nguyễn Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn, xin được tiếp tục nuôi con chung và không yêu cầu cấp dưỡng.

- Anh Phạm Văn A không có mặt nên không có quan điểm;

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội có quan điểm:

+ Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, đã tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ cho người thân của bị đơn; tuy nhiên, bị đơn cố tình trốn tránh không đến tòa để giải quyết vụ án nên việc Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn sau khi thực hiện đầy đủ các trình tự thủ tục tố tụng là đúng quy định của pháp luật.

+ Về nội dung: Xét lời trình bày của nguyên đơn và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã có thời gian dài sống ly thân, mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H. Về việc nuôi con: Chị H xin được tiếp tục nuôi cả 02 con và không yêu cầu anh A cấp dưỡng là tự nguyện và phù hợp thực tế, phù hợp nguyên vọng của con nên cần chấp nhận. Về tài sản, công sức và nợ chung: chị H xác nhận đều không có gì nên không xem xét; giả thiết, nếu có thì sau này anh A có quyền khởi kiện bằng một vụ án dân sự khác. Về án phí: Chị H phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thẩm tra chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử (Viết tắt: HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị H và anh Phạm Văn A đều có hộ khẩu thường trú tại xã H. Chị H làm đơn ly hôn, nộp các tài liệu kèm theo và đã nộp tiền tạm ứng án phí ly hôn; Tòa án nhân dân Khu vực 12 – Hà Nội thụ lý, giải quyết vụ việc là đúng thẩm quyền quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự (Viết tắt: BLTTDS). Bị đơn anh A đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng cố tình không có mặt, Tòa án đã tiến hành xác minh tại chính quyền địa phương và làm việc với gia đình, giao các văn bản tố tụng cho bà Hoàng Thị Á là mẹ đẻ anh A; bà Á đều xác nhận việc đã thông báo và giao gửi lại các văn bản này cho anh A, do anh A bận nên không đến tòa làm việc và có quan điểm trao đổi lại với bà về việc ly hôn, việc nuôi con. Tại phiên Toà ngày 27/11/2025, do anh A vắng mặt không có lý do nên HĐXX quyết định hoãn phiên tòa và tiếp tục giao các văn bản tố tụng theo qui định; tại phiên tòa hôm nay anh A vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Chị H và anh A kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn, là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống nhiều năm đầu vợ chồng hoàn thuận, hạnh phúc; tuy nhiên, từ năm 2024 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do anh A có quan hệ với người phụ nữ khác dẫn đến việc bỏ bê, không quan tâm đến vợ con làm cho tình cảm vợ chồng dạn nứt. Vợ chồng đã sống ly thân một thời gian dài, các bên không còn thương yêu, quan tâm đến nhau. Nay chị H nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, xin được ly hôn để ổn định cuộc sống. Kết quả xác minh tại chính quyền địa phương và gia đình anh A đều phù hợp với lời khai của chị H. Anh A có quan điểm muốn vợ chồng đoàn tụ nhưng không đến tòa làm việc, không có biện pháp hàn gắn mà chỉ có ý kiến thông qua mẹ đẻ nên không có căn cứ, cơ sở để xem xét. Xét đời sống, mâu thuẫn vợ chồng là trầm trọng, cuộc sống không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; vì vậy, yêu cầu xin ly hôn của chị H đối với anh A là phù hợp với qui định của pháp luật nên được chấp nhận.

[3] Về con chung: chị H và anh A có 02 con chung đều chưa thành niên. Từ khi vợ chồng ly thân (2024) đến nay các cháu vẫn ở với chị H. Việc chị H xin được nuôi cả hai con là phù hợp thực tế mọi mặt, phù hợp nguyện vọng của con và ý kiến, quan điểm của anh A (thông qua mẹ đẻ) nên được chấp nhận. Việc chị H không yêu cầu anh A cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên HĐXX không xét.

[4] Về tài sản, công sức và công nợ chung: Chị H xác nhận đều không có gì. Bà Á cũng xác nhận đều không có gì; tuy nhiên, việc xác nhận này là ý kiến của bà Á mà không phải là ý kiến của anh A nên HĐXX không có căn cứ, cơ sở để xem xét. Giả thiết, nếu có thì anh A được quyền khởi kiện nội dung này trong vụ án dân sự khác.

[5] Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu toàn bộ tiền án phí; nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

[6] Về quan điểm của Viện kiểm sát: Quan điểm, đề nghị của Viện kiểm sát là phù hợp với qui định của pháp luật, phù hợp quan điểm của HĐXX.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 36, khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227, 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Hòa

Xử: Chị Nguyễn Thị H được ly hôn với anh Phạm Văn A.

Về con chung: Giao chị H tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng 02 con chung Phạm Khánh N, sinh ngày 27/12/2014 và Phạm Hải Đ, sinh ngày 15/3/2017 cho đến khi trưởng thành hoặc đến khi có sự thay đổi khác. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh A cho đến khi chị H có yêu cầu hoặc có sự thay đổi khác.

Không ai được ngăn cản việc thăm hỏi con chung.

Về tài sản, công sức và nợ chung: Chị H xác nhận đều không có gì. Giành quyền khởi kiện cho anh A trong vụ án dân sự khác nếu có căn cứ.

Về án phí: chị Nguyễn Thị H phải nộp 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm được đối trừ tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị H đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0011760 ngày 14/10/2025 của Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 12 – Hà Nội. Xác nhận việc chị H đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết, tống đạt hợp lệ./.

Nơi nhận :

  • - VKSND cùng cấp;
  • - Phòng THADS KV12 – Hà Nội;
  • - UBND xã Hòa Xá;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; VP./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Đình Kiến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 105/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hôn nhân và Gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 12 - HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp HNGĐ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger