TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2025/DS-ST Ngày: 01/4/2025 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Yến.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Đoàn Văn Rỹ;
- Ông Danh Cư.
Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Vân - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 8 (địa chỉ: Số A đường L, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh) xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 563/2024/TLST-DS ngày 09/12/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2025/QĐXXST-DS ngày 10/3/2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S
Địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S, địa chỉ: Số B đường N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh có đại diện hợp pháp là ông Trần Gia T, sinh năm 1971, địa chỉ: Số H đường L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Là đại diện theo ủy quyền theo Văn bản ủy quyền ngày 12/10/2022, ngày 13/9/2023, ngày 02/8/2024, ngày 10/12/2024 và ngày 14/3/2025. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Ngân Quốc H, sinh năm 1994
Địa chỉ: Số C Khu B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt, có đơn yêu cầu vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 27/9/2024, các bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S (sau đây viết tắt là Ngân hàng) có người đại diện hợp pháp là ông Trần Gia T trình bày như sau:
Ngày 27/5/2022, ông Ngân Quốc H có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng - các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng) cấp thẻ Master số 526830 - 2499, cụ thể như sau:
- Hạn mức sử dụng thẻ tín dụng là 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng);
- Mục đích vay: Tiêu dùng cá nhân;
- Lãi suất trong hạn là 2,6%/tháng; lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại; lãi suất trong hạn áp dụng hiện nay là 2,766%/tháng;
- Phí gồm có: Phí trễ hạn; Phí vượt hạn mức; Phí hàng năm (phí thường niên); Phí rút tiền mặt...;
Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ông H phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 25 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 59.880.000đồng. Trong thời gian sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến ngày 16/6/2023, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 44.909.902đồng. Thứ tự thanh toán áp dụng theo Điều 21 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng như sau:
- Các khoản phí và/hoặc lãi của kỳ trước;
- Giao dịch rút tiền mặt của kỳ trước;
- Giao dịch mua hàng hóa của kỳ trước;
- Các khoản phí và/hoặc lãi trong kỳ;
- Giao dịch rút tiền mặt trong kỳ;
- Giao dịch mua hàng hóa trong kỳ.
Tính đến ngày 16/6/2023, số tiền mà ông H đã giao dịch, đã thanh toán và các khoản nợ phí, nợ lãi như sau:
- + Tổng tiền lãi trong hạn: 6.319.602đồng;
- + Phí trễ hạn: 715.090đồng;
- + Phí vượt hạn mức: 307.820đồng;
- + Phí khác (phí thường niên, phí rút tiền mặt,...): 1.119.000đồng;
- + Tổng số tiền đã giao dịch: 59.880.000đồng.
Như vậy, dư nợ của ông H đến ngày 16/6/2023 = 59.880.000đồng – (44.909.902đồng - 6.319.602đồng - 715.090đồng - 307.820đồng - 1.119.000đồng) = 23.431.610đồng.
Do ông H vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng nên từ ngày 16/6/2023, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn với lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại theo Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Tính đến ngày 01/4/2025, ông H còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc là 23.431.610đồng;
- Nợ lãi quá hạn = Nợ gốc là 23.431.610đồng x lãi suất quá hạn là 150% x lãi suất trong hạn là 2.766%/tháng/30 ngày x 656 ngày (từ ngày 16/6/2023 đến ngày 01/4/2025) = 21.258.336đồng.
Tổng cộng là 44.689.946đồng.
Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:
- Buộc ông Ngân Quốc H phải trả ngay cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng tổng cộng là 44.689.946đồng trong đó nợ gốc là 23.431.610đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 01/4/2025 là 21.258.336đồng.
- Buộc ông Ngân Quốc H tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng.
Bị đơn là ông Ngân Quốc H được Tòa án tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án, giấy triệu tập đương sự để trình bày ý kiến, thông báo và giấy triệu tập đương sự tham gia phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng ông H vẫn vắng mặt không lý do và không có văn bản trình bày ý kiến về việc giải quyết vụ án gửi đến Tòa án.
Tại bản tự khai ngày 01/4/2025, bị đơn là ông Ngân Quốc H trình bày:
Ngày 27/5/2022, ông có ký với Ngân hàng Hợp đồng cấp thẻ tín dụng với hạn mức tín dụng là 20.000.000đồng. Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông và ông đã thực hiện các giao dịch như sao kê của Ngân hàng. Ông thống nhất với trình bày của Ngân hàng về việc đến nay ông còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 44.689.946đồng trong đó nợ gốc là 23.431.610đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 01/4/2025 là 21.258.336đồng. Ông đồng ý thanh toán một lần khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại hợp đồng. Ông đồng ý chịu tiền án phí theo quy định của pháp luật. Do bận việc nên ông có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt ông tại các buổi làm việc, phiên họp và phiên tòa của Tòa án.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Nguyên đơn là Ngân hàng có người đại diện hợp pháp là ông Trần Gia T và bị đơn là ông Ngân Quốc H vắng mặt, có đơn đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm là đúng thẩm quyền. Quá trình giải quyết vụ án đến khi đưa ra xét xử và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
- - Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Nguyên đơn là Ngân hàng yêu cầu bị đơn là ông Ngân Quốc H, địa chỉ: Số C Khu B, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh, phải trả một lần cho Ngân hàng toàn bộ số tiền còn nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S. Như vậy, đây là tranh chấp về hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Trần Gia T và bị đơn là ông Ngân Quốc H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu của đương sự:
Ngày 27/5/2022, Ngân hàng và ông Ngân Quốc H đã ký kết Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S kèm theo bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S với hạn mức sử dụng thẻ tín dụng là 20.000.000đồng (hai mươi triệu đồng), mục đích vay để tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2,6% tháng, lãi suất quá hạn là 150% của lãi suất trong hạn được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại, lãi suất trong áp dụng hiện tại là 2,766%/tháng, phí gồm có: Phí trễ hạn; Phí vượt hạn mức; Phí thường niên; Phí rút tiền mặt... Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông H đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 59.880.000đồng. Trong thời gian sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt đến ngày 16/6/2023, ông H đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 44.909.902đồng. Tuy nhiên, từ ngày 16/6/2023 cho đến nay, ông H không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022, bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S, ông H đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ từ ngày 16/6/2023 và tính đến ngày 01/4/2025, ông H còn nợ Ngân hàng tổng cộng là 44.689.946đồng trong đó nợ gốc là 23.431.610đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 01/4/2025 là 21.258.336đồng.
Xét thấy tiền lãi vay, lãi suất và các tiền phí được Ngân hàng xác định đúng theo thỏa thuận của các bên tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S và phù hợp với quy định tại Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010.
Việc ông H đã sử dụng thẻ tín dụng do Ngân hàng cấp để thanh toán tiêu dùng cá nhân nhưng không thanh toán đầy đủ nợ gốc và các khoản phí, tiền lãi đúng thời hạn là vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông H phải thanh toán một lần cho Ngân hàng toàn bộ số nợ còn thiếu tổng cộng là 44.689.946đồng trong đó nợ gốc là 23.431.610đồng và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 01/4/2025 là 21.258.336đồng đồng thời phải tiếp tục thanh toán khoản nợ lãi phát sinh từ ngày 02/4/2025 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở chấp nhận theo quy định tại Điều 290, Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
[3] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn là ông Ngân Quốc H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 90 và Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ vào Điều 290, Điều 471 và Điều 474 của Bộ luật Dân sự năm 2005;
Căn cứ vào Luật Phí và Lệ phí năm 2015;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là Ngân hàng TMCP S:
Ông Ngân Quốc H có nghĩa vụ thanh toán một lần cho Ngân hàng TMCP S toàn bộ số nợ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S tổng cộng là 44.689.946đồng (bốn mươi bốn triệu sáu trăm tám mươi chín ngàn chín trăm bốn mươi sáu đồng) trong đó nợ gốc là 23.431.610đồng (hai mươi ba triệu bốn trăm ba mươi mốt ngàn sáu trăm mười đồng) và nợ lãi quá hạn tính đến ngày 01/4/2025 là 21.258.336đồng (hai mươi mốt triệu hai trăm năm mươi tám ngàn ba trăm ba mươi sáu đồng).
Kể từ ngày 02/4/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ, ông Ngân Quốc H phải tiếp tục thanh toán tiền lãi trên số tiền phải thi hành tương ứng theo mức lãi suất do các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ký ngày 27/5/2022 và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S.
Thi hành tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Ngân Quốc H phải chịu 2.234.497đồng (hai triệu hai trăm ba mươi bốn ngàn bốn trăm chín mươi bảy đồng).
Ngân hàng TMCP S được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 917.142đồng (chín trăm mười bảy ngàn một trăm bốn mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền số 0030723 ngày 11/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng TMCP S và ông Ngân Quốc H có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc được niêm yết hợp lệ.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Ngọc Yến |
Bản án số 105/2025/DS-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 105/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 01/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tín dụng
