Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BÌNH THUẬN

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2025/DS-PT

Ngày: 26 - 5 -2025

V/v tranh chấp hợp đồng

vay tài sản

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên

Các Thẩm phán: Bà Phạm Phong Lan, ông Lê Minh Tuấn.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Trọng Kha - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Bà Nguyễn Thị Linh - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 28/2025/TLPT-DS ngày 26 tháng 02 năm 2025, về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2025/QĐ-PT ngày 03 tháng 4 năm 2025, Quyết định hoãn phiên toà số 70/2025/QĐ-PT ngày 28/4/2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Bùi Việt D, sinh năm 1991. Nơi cư trú: Đường số E, tổ A, thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Bị đơn: Bà Đỗ Thị O, sinh năm 1995. Nơi cư trú: Đường số F, tổ E, thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hải L. Nơi cư trú: Đường số F, tổ E, thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt).
  2. Bà Đặng Thị Kim N, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Đường số E, tổ A, thôn E, xã N, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N: Bà Nguyễn Thị Ngọc P, sinh năm 1961. Nơi cư trú: Số A, đường số H, tổ E, thôn A, xã T, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận (có mặt).

Người kháng cáo: Bà Nguyễn Thị Ngọc P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Theo đơn khởi kiện ngày 25/8/2023, các tài liệu chứng cứ khác và tại phiên tòa nguyên đơn ông Bùi Việt D và người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Ngọc P trình bày:

Xuất phát từ quan hệ quen biết, bà Đỗ Thị O nhiều lần mượn tiền của ông Bùi Việt D. Đến ngày 16/9/2021, bà O viết giấy mượn của ông D số tiền là 385.000.000 đồng, đồng thời chốt mọi giao dịch trước đó không còn liên quan. Tuy nhiên, từ ngày nhận nợ đến nay bà O chưa trả cho ông D được bất kỳ khoản tiền lãi và gốc nào. Ông D xác định vào thời điểm mượn tiền, bà O đang có chồng là ông Nguyễn Hải L nên ông Bùi Việt D khởi kiện yêu cầu bà O và ông L phải có trách nhiệm liên đới trả cho vợ chồng ông D, bà N số tiền nợ vay là 385.000.000 đồng và tiền lãi phát sinh tính từ ngày 17/9/2021 đến khi vụ án được xét xử xong với lãi suất 0,83%/tháng.

Tại bản khai ngày 08/11/2023, bị đơn bà Đỗ Thị O trình bày:

Trong năm 2021 bà và ông Bùi Việt D có làm ăn chung về mua bán đất và vay mượn tiền. Ngày 17/9/2021, bà O có nhận nợ của ông D số tiền 385.000.000 đồng. Tháng 9/2021, bà O có mua của ông Phạm Tuấn A và bà Dương Thị H 01 thửa đất tại thôn Đ, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận với giá là 825.000.000 đồng và để vợ chồng ông D bà N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, vợ chồng ông D bà N đã bán lại thửa đất này cho bà Phạm Thị H1. Sau khi bán đất, bà O đã trả đủ số tiền này cho ông D, cụ thể:

  • Cấn trừ khoản nợ 205.000.000 đồng từ ông D nợ bà H1 sang cho bà O nợ bà H1, khoản tiền bà O trả cho bà Hà T vào khoản nợ 385.000.000 đồng.
  • Vào ngày 15/6/2022, ông D nhờ bà O trả cho ông Hoàng Đức M số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền này cũng cấn trừ vào số tiền nợ 385.000.000 đồng.
  • Vào ngày 19/8/2022, bà O chuyển khoản cho bà Đặng Thị Kim N, số tiền 55.000.000 đồng.
  • Vào ngày 07/10/2022, bà O chuyển khoản cho bà Đặng Thị Kim N số tiền 50.000.000 đồng.
  • Tại quán café Hoa S, bà O đưa cho ông D 25.000.000 đồng để trả vào số tiền nợ 385.000.000 đồng.

Do đó, bà O không đồng ý đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 28/11/2024, bản tường trình ngày 02/01/2025, ông Nguyễn Hải L trình bày:

Năm 2019, ông quen biết và chung sống với nhau như vợ chồng với bà O. Đến năm 2020 mới cùng nhau đăng ký kết hôn. Trước đó, bà O có chồng nhưng đã ly hôn, ông cũng có vợ và đã ly hôn. Do mâu thuẫn về tài sản trước hôn nhân nên ông và bà O thiếu tin tưởng nhau về kinh tế, thu nhập của ai người đó cất giữ và sử dụng riêng, ông không biết việc vay mượn tiền giữa bà O và ông D, ông không ký bất kỳ giấy vay mượn nào. Do đó, ông không đồng ý cùng bà O trả nợ cho ông D và bà N.

Tại các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án người có quyền và nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N trình bày: Bà hoàn toàn thống nhất với lời trình bày của chồng bà là ông Bùi Việt D.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận đã quyết định:

Áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

Tuyên xử:

Chấp nhận tổng số tiền bà Đỗ Thị O còn nợ phải trả cho ông Bùi Việt D là 385.000.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền 100.000.000 đồng mà bà O đã trả cho ông Hoàng Đức M thay cho ông Bùi Việt D đối với hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 24/02/2022.

Buộc bà Đỗ Thị O phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N số tiền còn nợ 285.000.000 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên các quyết định về lãi suất chậm trả, án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 14 tháng 01 năm 2025, bà Nguyễn Thị Ngọc P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử theo hướng: Buộc bà Đỗ Thị O liên đới cùng ông Nguyễn Hải L có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N số tiền còn nợ 285.000.000 đồng.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bà Nguyễn Thị Ngọc P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, yêu cầu Toà án sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Hải L phải liên đới với bà Đỗ Thị O cùng có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N số tiền còn nợ 285.000.000 đồng. Bởi: Ông L, bà O vẫn có tài sản chung thể hiện ông L và O cùng đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 450110, thửa đất số 114, tờ bản đồ ID2, diện tích 10.000m² ông L, bà O nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn Q và bà Nguyễn Thị D1 năm 2022, năm 2023 vợ chồng ông L và bà O đã chuyển nhượng thửa đất này lại cho ông Huỳnh Quang K, bà Nguyễn Thị M1. Đồng thời, ông L, bà O cùng đứng tên thế chấp xe ô tô con HYUNDAI ELANTRA biển kiểm soát 86A-175.80 theo giấy biên nhận thế chấp ngày 26/6/2023. Việc thế chấp tài sản chung này thể hiện vợ chồng ông L, bà O vay tiền để phục vụ kinh tế chung của ông L, bà O.

Bị đơn bà Đỗ Thị O và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải L vắng mặt nên các đương sự không tranh luận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị P là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc P (là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N) nộp trong thời hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.

Về sự vắng mặt của các đương sự: Nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N vắng mặt nhưng đã có uỷ quyền cho bà Nguyễn Thị Ngọc P tham gia tố tụng. Bị đơn bà Đỗ Thị O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải L được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt đề cùng ngày 18/5/2025, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án xét xử vắng mặt bị đơn bà Đỗ Thị O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải L.

[2] Về nội dung: Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc P (là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N) yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xét xử: Sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc ông Nguyễn Hải L phải liên đới với bà Đỗ Thị O cùng có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N số tiền còn nợ 285.000.000 đồng; tại các đơn xin xét xử vắng mặt đề cùng ngày 18/5/2025 bị đơn bà Đỗ Thị O và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hải L không đồng ý nội dung kháng cáo của nguyên đơn, yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[2.1] Hội đồng xét xử xét thấy:

Tại phiên tòa sơ thẩm, ông Bùi Việt D trình bày: Số tiền gốc 385.000.000 đồng bà O vay mượn ông L không biết và khi giao tiền ông L cũng không chứng kiến. Tại giấy vay tiền ngày 16/9/2021, chỉ có chữ ký của bà O, không có chữ ký của ông L.

[2.2] Xét thấy: Số tiền 385.000.000 đồng là số tiền chốt nợ giữa bà O và ông D đến ngày 16/9/2021, nghĩa là trước đó giữa bà O và ông D đã tồn tại mối quan hệ làm ăn, vay mượn tiền chứ không phải mới phát sinh ngày 16/9/2021, việc này phù hợp với lời trình bày giữa ông D với bà O. Mục đích vay tiền theo lời ông D và bà O là bà O vay để làm ăn.

Căn cứ vào khoản 3 Điều 45 Luật Hôn nhân và Gia đình quy định:

“Vợ, chồng có các nghĩa vụ riêng về tài sản sau đây:

...3. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch do một bên xác lập, thực hiện không vì nhu cầu của gia đình;...”

Bà Đỗ Thị O vay tiền của ông Bùi Việt D do bà O tự xác lập, không có sự tham gia của ông Nguyễn Hải L, mục đích vay tiền của bà O thực hiện không vì nhu cầu thiết yếu của gia đình. Do đó, đây là nghĩa vụ riêng về tài sản của bà Đỗ Thị O, ông Nguyễn Hải L không có nghĩa vụ liên đới với bà Đỗ Thị O cùng trả nợ cho ông Bùi Việt D.

Nguyên đơn không chứng minh được mục đích vay tiền của bà Đỗ Thị O nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình vợ chồng của bà O, ông L; đồng thời ông L cũng không thừa nhận lời trình bày của nguyên đơn. Tại đơn xin xét xử vắng mặt tại phiên toà ngày 18/5/2025 bị đơn bà Đỗ Thị O cũng đề nghị không xem xét trách nhiệm liên đới của ông L đối với khoản nợ này do việc vay mượn giữa bà với vợ chồng ông D thì ông L không biết.

Ông L cho rằng không biết việc bà O đã vay tiền của ông D, bà N, không biết việc làm ăn giữa bà O với ông D, bà N. Do vậy, nguyên đơn ông D, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N yêu cầu ông L có nghĩa vụ liên đới cùng bà O trả số tiền 285.000.000 đồng là không có cơ sở xem xét chấp nhận. Do bà O vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho ông D, bà N nên việc Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận sau khi trừ vào số tiền 100.000.000 đồng mà bà O đã trả cho ông Hoàng Đức M thay cho ông Bùi Việt D đối với hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 24/02/2022, buộc bà Đỗ Thị O phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N số tiền còn nợ 285.000.000 đồng là có cơ sở.

Đối với tài liệu bà Nguyễn Thị Ngọc P cung cấp tại cấp phúc thẩm là bản sao không có chứng thực và cũng không đủ cơ sở để chứng minh có liên quan đến số nợ 385.000.000đồng mà bà O đã vay của ông D và số tiền bà O còn có nghĩa vụ trả cho ông D, bà N là 285.000.00 đồng như án sơ thẩm đã tuyên xử.

[3] Từ những phân tích trên, thấy rằng bà P đại diện uỷ quyền của nguyên đơn ông D và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà N kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ có giá trị chứng minh do đó không có căn cứ để chấp nhận, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc P là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Bùi Viết D2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;

    Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Ngọc P là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Bùi Việt D và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị Kim N.

    Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 01/2025/DS-ST ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.

  2. Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 1 Điều 238, khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 463, Điều 466, Điều 469 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 26, khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Luật Thi hành án dân sự năm 2008.

    Tuyên xử:

    Chấp nhận tổng số tiền bà Đỗ Thị O còn nợ phải trả cho ông Bùi Việt D là 385.000.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền 100.000.000 đồng mà bà O đã trả cho ông Hoàng Đức M thay cho ông Bùi Việt D đối với hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất lập ngày 24/02/2022.

    Buộc bà Đỗ Thị O phải có trách nhiệm trả cho vợ chồng ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N số tiền còn nợ 285.000.000 đồng.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án đối với số tiền người phải thi hành án phải trả nêu trên, thì người phải thi hành án còn phải chịu lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian và số tiền còn phải thi hành án.

  3. Về án phí:
    1. Án phí dân sự sơ thẩm:

      Buộc bà Đỗ Thị O phải chịu 14.250.000 đồng (Mười bốn triệu hai trăm năm mươi ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

      Trả lại cho ông Bùi Việt D số tiền 11.185.000 đồng đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0017640, ngày 20/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh.

    2. Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N đã nộp theo các biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005143 và số 0005144 cùng ngày 21/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đức Linh. Ông Bùi Việt D và bà Đặng Thị Kim N đã nộp đủ án phí dân sự phúc thẩm.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án Dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 26/5/2025).

Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

- VKSND tỉnh Bình Thuận;

- TAND huyện Đức Linh;

- Chi Cục THADS huyện Đức Linh;

- Các đương sự;

- Lưu: Hồ sơ vụ án; Tổ HCTP.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thủy Tiên

Thành viên Hội đồng xét xử

Thẩm phán- Chủ tọa phiên họp

Phạm Phong Lan

Nguyễn Thị Thủy Tiên

Lê Minh Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2025/DS-PT ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 105/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Bùi Việt D tranh chấp hợp đồng vay tài sản với và Đỗ Thị O
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger