|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2024/HSST Ngày: 31-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Trang
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Mai Trọng Thắng;
- Bà Trần Thị Thanh Dung.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh - Thư ký Toà án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Gấm - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 96/2024/TLST-HS ngày 05 tháng 06 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 134/2024/QĐXXST-HS ngày 08/7/2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh P, (tên gọi khác: Chó con); giới tính: N; sinh năm 1990 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 30 đường D, Phường D, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 07/12; là con ông Nguyễn Thành D (đã chết) và bà Trần Thị Mỹ H; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không;
Nhân thân:
- Bản án số 02/2015/HSST ngày 08/01/2015 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt Nguyễn Thanh P 09 tháng tù. Chấp hành xong Bản án ngày 04/5/2015.
- Quyết định số 434/QĐ-TA ngày 19/12/2017 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Chấp hành xong Quyết định ngày 25/3/2019.
- Quyết định số 292/2020/QĐ-TA ngày 04/9/2020 của Tòa án nhân dân Quận 4, Thành phố Hồ Chí Minh về việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 15 tháng. Chấp hành xong Quyết định ngày 02/10/2021.
Bị cáo bị bắt quả tang tạm giữ từ ngày 26/10/2023, đến ngày 02/11/2023 bị áp dụng biện pháp tạm giam. Bị cáo có mặt tại phiên toà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Ông Võ Tuấn D1, sinh năm 2000; Nơi thường trú: Số A H, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số B N, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.(vắng mặt)
- Ông Lương Công Đ, sinh năm 1996; Nơi cư trú: Số G T, Phường A, Quận D, Tp .. (vắng mặt)
- Bà Mạc Thị Cẩm H1, sinh năm 1981; Nơi cư trú: Số F Khu phố T, phường T, thành phố D, tỉnh Bình Dương. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thanh P là người nghiện ma túy từ đầu năm 2017 đến nay. Để có tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng, từ tháng 11/2022 P nảy sinh ý định mua ma túy đá về bán lại cho người khác để kiếm lời. P mua ma túy của người thanh niên tên D2 (không rõ nhân thân, lai lịch) nhiều lần, mỗi lần mua một gói ma túy đá có khối lượng 20g với giá 8.000.000 đồng, thanh toán bằng tiền mặt. Ngày 23/10/2023, P tiếp tục mua của D2 một gói ma túy đá giá 8.000.000 đồng. Diệu trực tiếp giao ma túy cho P tại C đường K, Phường C, Quận D. Mua được ma túy, P cất giấu trong túi màu đỏ treo tại móc khóa xe. Khoảng 21 giờ ngày 25/10/2023, P điều khiển xe máy Yamaha biển số 61D1-897.96 đến địa chỉ C T, phường T, Quận G đón Võ Tuấn D1 (Do D1 hết tiền đặt xe nên nhờ P đến chở về nhà). P không nói cho D1 biết là P mang theo ma túy đi bán. Đến 21 giờ 40 phút ngày 25/10/2023, khi P và D1 đi xe máy đến địa chỉ số D, đường L, phường T, Quận G thì bị Tổ tuần tra 363 Công an Q yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi màu đỏ, treo tại móc khóa xe máy do P điều khiển có 07 (bảy) gói nylon chứa tinh thể không màu. P khai nhận là ma túy đá, cất giấu nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời, trên đường đi bán ma túy cho khách thì bị bắt quả tang. Công an phường T, Quận G tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Nguyễn Thanh P.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Nguyễn Thanh P khai nhận: P bán ma túy cho khoảng 10 người (không rõ nhân thân, lai lịch) trên địa bàn Quận D và Quận G. Trong số đó, P bán ma túy cho Võ Tuấn D1 và Lương Công Đ, cụ thể như sau:
P bán ma túy cho Võ Tuấn D1 3 lần, mỗi lần bán 01 gói ma túy giá 300.000 đồng. D1 thanh toán 900.000 đồng bằng tiền mặt, ngày bán gần nhất 23/10/2023.
P bán ma túy cho Lương Công Đ nhiều lần, từ tháng 2/2023 mỗi lần P bán 01 gói ma túy cho Đ giá từ 1.200.000 đồng đến 2.350.000 đồng. Ngày 23/10/2023 P bán cho Đ 01 gói ma túy giá 1.200.000 đồng, P trực tiếp giao ma túy cho Đ tại trước địa chỉ 57 đường D, Quận D, Đ chưa trả tiền. Ngày 25/10/2023, Đ mua tiếp của P 01 gói ma túy giá 1.150.000 đồng. Đ thanh toán từ tài khoản số 31815507 mở tại ngân hàng Á của Đ qua tài khoản số [...] mở tại ngân hàng Thương mại cổ phần S của P số tiền 2.350.000 đồng. P chưa kịp giao ma túy cho Đ thì bị Tổ tuần tra 363 Công an Q bắt quả tang.
Tiến hành test nhanh ma túy, kết quả Nguyễn Thanh P, Võ Tuấn D1 và Lương Công Đ đều dương tính với ma túy (Bút lục 84, 90, 96).
Kết luận giám định số 11985/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H, kết luận về đối tượng giám định: 07 gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy ở thể rắn có khối lượng 15,6906g (mười lăm phẩy sáu chín không sáu gam), loại Methamphetamine (Bút lục 29).
*Vật chứng vụ án:
- - 07 (bảy) gói nylon chứa tinh thể không màu. Thu giữ của Nguyễn Thanh P (Bút lục 25).
- - 01 (một) túi đeo màu đỏ. Thu giữ của Nguyễn Thanh P;
- - 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, màu đỏ, biển số 61D1 – 897.96, số khung: RLCSE810SY062408, số máy E3X8E062405. Qua xác minh chiếc xe do bà Mạc Thị Cẩm H1 đứng tên chủ sở hữu. Bà H1 khai đã bán xe và không có yêu cầu gì khác. Nguyễn Thanh P khai mua xe giá 12.000.000 đồng nhưng chưa làm thủ tục sang tên.
- - 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu bạc, số Imei: 352689820328734/01, số thuê bao 0909463236. Thu giữ của Nguyễn Thanh P.
- - 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu vàng, số Imei: 358465/253755/7, số thuê bao 0878976344 (điện thoại không mở nguồn được). Thu giữ của Võ Tuấn D1.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro Max màu đen, số Imei: 354132412618335, số thuê bao: 0705170409. Thu giữ của Lương Công Đ.
- - Kết quả sao kê ngân hàng thể hiện 11 lần Nguyễn Thanh P nhận tiền từ tài khoản số 31815507 mở tại ngân hàng Á của Lương Công Đ thanh toán tiền mua ma túy cho Nguyễn Thanh P.
Bản cáo trạng số 90/CT-VKS-Q7 ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 đã truy tố Nguyễn Thanh P về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b, c, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay hoàn toàn phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra và phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở khẳng định: bị cáo Nguyễn Thanh P có hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Sau khi phân tích hành vi phạm tội của bị cáo và đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b, c, i khoản 2, Khoản Điều 251 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 08 (tám) năm 06 (tháng) đến 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù; Buộc bị cáo phải nộp phạt số tiền từ 10.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng; Buộc Nguyễn Thanh P phải nộp lại số tiền thu lợi bất chính 20.950.000 đồng (hai mươi triệu chín trăm năm mươi nghìn) từ việc bán ma túy cho Võ Tuấn D1, Lương Công Đ và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh P đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên, không tranh luận gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về các yếu tố cấu thành tội phạm: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với vật chứng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết quả giám định, lời khai của những người liên quan các chứng cứ khác có trong hồ sơ và phù hợp với Cáo trạng. Qua đó đủ căn cứ để kết luận: Ngày 25/10/2023 bị cáo nguyễn Thanh P1 đã có hành vi tàng trữ ma túy ở thể rắn có tổng khối lượng 15,6906g loại Methamphetamine (theo kết luận giám định số 11985/KL-KTHS ngày 03/11/2023 của Phòng K Công an Thành phố H) với mục đích để bán lại cho người khác thì bị bắt quả tang vào lúc 21 giờ 40 phút cùng ngày tại trước địa chỉ D đường L, phường T, Quận G, Thành Phố Hồ Chí Minh.
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định bị cáo đã bán ma túy cho khoảng 10 người, trong đó:
Bán cho Võ Tuấn D1 03 lần, mỗi lần một gói ma túy giá 300.000 đồng thu lợi bất chính 900.000 đồng; ngày bán gần nhất cho D1 là 23/10/2023. Giao dịch bằng hình thức giao ma túy trực tiếp và lấy tiền mặt.
Bán cho Lương Công Đ nhiều lần (hơn 10 lần) từ tháng 02/2023, ngày 23/10/2023 bị cáo bán cho Đ một gói ma túy với giá là 1.200.000 đồng. Ngày 25/10/2023 bị cáo cũng đồng ý bán cho Đ 01 gói ma túy đá với giá 1.150.000 đồng Đ đã chuyển tiền cho bị cáo nhưng chưa kịp giao ma túy thì bị bắt. Bị cáo giao dịch với Đ bằng hình thức gọi điện thoại, chốt số lượng, địa điểm giao sau đó Đ chuyển tiền qua tài khoản cho bị cáo và bị cáo đến địa điểm đã hẹn để giao ma túy cho Đ.
Tổng số tiền bị cáo thu lợi bất chính từ việc bán ma túy cho D1 và Đ là 20.950.000 đồng
Xét tính chất vụ án là rất nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý Nhà nước ta về chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân đồng thời gián tiếp là nguyên nhân dẫn đến những tệ nạn xã hội khác. Bị cáo nhận thức được việc mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, là nguyên nhân làm gia tăng các loại tội phạm khác nhưng vì lợi nhuận và bản thân là người nghiện nên bất chấp thực hiện với lỗi cố ý, đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo đã bán ma túy nhiều lần, cho nhiều người mỗi lần đều cấu thành một tội phạm độc lập nên bị coi là phạm tội 02 lần trở lên, và mua bán với hai người trở lên. Đây là những tình tiết khung được quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo có đủ các yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma tuý" như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận 7 đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt theo điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.
Về nhân thân: Bị cáo từng bị kết án về tội Trộm cắp tài sản, bản thân nhận thức được việc sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện, điều này thể hiện tính coi thường pháp luật của bị cáo nên là người có nhân thân xấu. Do đó, hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải có một hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống một thời gian để răn đe bị cáo cũng như đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.
[4] Về hình phạt bổ sung: đối với loại tội phạm này ngoài hình phạt chính còn có thể áp dụng hình phạt bổ sung, bị cáo bán ma túy cho nhiều người nhằm mục đích kiếm lời và đã thu lợi bất chính nên buộc bị cáo P1 phải nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng.
[5] Về xử lý vật chứng:
- - 07 (bảy) gói nylon chứa tinh thể không màu là ma túy, đây là mặt hàng nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy;
- - 01 (một) túi đeo màu đỏ. Thu giữ của Nguyễn Thanh P là vật chứa ma túy khi bị bắt nên tịch thu tiêu hủy;
- - 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, màu đỏ, biển số 61D1 – 897.96, số khung: RLCSE810SY062408, số máy E3X8E062405. Qua xác minh chiếc xe do bà Mạc Thị Cẩm H1 đứng tên chủ sở hữu. Bà H1 khai đã bán xe và không có yêu cầu gì khác. Nguyễn Thanh P sử dụng chiếc xe làm công cụ phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu bạc, số Imei: 352689820328734/01, số thuê bao 0909463236. Thu giữ của Nguyễn Thanh P, P sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu vàng, số Imei: 358465/253755/7, số thuê bao 0878976344 (điện thoại không mở nguồn được). Thu giữ của Võ Tuấn D1, D1 sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
- - 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro Max màu đen, số Imei: 354132412618335, số thuê bao: 0705170409. Thu giữ của Lương Công Đ, Đ sử dụng để liên lạc mua bán ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
[6] Đối với số tiền thu lợi bất chính 20.950.000 đồng từ việc bán ma túy cho Võ Tuấn D1 và Lương Công Đ, nên buộc bị cáo P phải nộp lại sung quỹ nhà nước.
[7] Đối với người thanh niên tên D2 (không rõ nhân thân lai lịch) bán ma túy cho Nguyễn Thanh P, do không xác định được nhân thân, lai lịch nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q tiếp tục điều tra, làm rõ và xử lý sau.
[8] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh P đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”;
- Căn cứ điểm b, c, i Khoản 2; khoản 5 Điều 251; điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh P 08 (tám) năm 06 tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày 26/10/2023.
Hình phạt bổ sung: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh P phải nộp phạt số tiền 10.000.000 đồng (mười triệu) để sung quỹ Ngân sách Nhà nước.
- Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 tuyên:
- Buộc Nguyễn Thanh P nộp lại số tiền thu lợi bất chính 20.950.000 đồng (Hai mươi triệu chín trăm năm mươi nghìn).
- Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Nguyễn Thanh P và hình dấu Công an phường T, Quận G, bên trong có 07 gói nylon chứa tinh thể không màu; 01 (một) túi đeo màu đỏ.
- Tịch thu sung quỹ ngân sách Nhà nước: 01 (một) xe gắn máy hiệu Yamaha, màu đỏ, biển số 61D1 – 897.96, số khung: RLCSE810SY062408, số máy E3X8E062405; 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu bạc, số Imei: 352689820328734/01, số thuê bao 0909463236; 01 (một) điện thoại di động Samsung, màu vàng, số Imei: 358465/253755/7, số thuê bao 0878976344; 01 (một) điện thoại di động Iphone 14 Pro Max màu đen, số Imei: 354132412618335, số thuê bao: 0705170409.
(Theo Biên bản V/v giao, nhận vật chứng tài sản số 107 ngày 04/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015: Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thu Trang |
Bản án số 105/2024/HSST ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 105/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh Phong đã phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy, điểm b,c,i khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015
