Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 05/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Cao Việt Hoàng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Bá Tiến và ông Nguyễn Văn Kỹ.

  • - Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lộc - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quân - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 77/2024/TLHS-ST ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 174/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

1. Ngô Thị Thu H, sinh năm 1984 tại tỉnh Bắc Ninh; hộ khẩu thường trú và chỗ ở: số A V, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; giới tính: Nữ; con ông Ngô Văn H1, sinh năm 1959 (đã chết); con bà Tạ Thị C, sinh năm 1958; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất; chồng: Nguyễn Trọng N, sinh năm 1984 (đã ly hôn); con có 04 con, con lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/4/2024 đến ngày 22/4/2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện tại ngoại. Có mặt.

  • - Người làm chứng: Ông Nguyễn Mạnh C1; sinh năm: 1988; HKTT: khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  • - Người chứng kiến: Ông Bùi Văn N1; sinh năm: 1977; HKTT: khu I, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 16 giờ 30 phút ngày 19/4/2024 tại khu vực trước cửa quán Đ số E đường H, phường Đ, thành phố B, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh B phối hợp với Công an thành phố B và Công an phường Đ, thành phố B phát hiện Ngô Thị Thu H, sinh năm 1984, hộ khẩu thường trú (HKTT): số A V, phường K, thành phố B đang có hành vi vận chuyển 04 thùng bìa cát-tông bên ngoài có bọc giấy nilon màu trắng, bên trong có chứa thuốc lá điếu nghi là thuốc lá điếu nhập lậu, 04 thùng bìa cát-tông trên đang được chuyển từ xe môtô nhãn hiệu Honda Wave Anpha biển kiểm soát 99G1-669.30 của Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1988, trú tại: khu phố N, phường K, thành phố B xuống. Tổ công tác tiến hành kiểm tra tại chỗ, Ngô Thị Thu H khai nhận bên trong 04 thùng bìa cát-tông trên, bên trong chứa thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison” và nhãn hiệu “Esse” nhập lậu, ngoài ra H còn tự giao nộp 01 thùng bìa cát-tông bên trong có chứa thuốc lá điếu nhãn hiệu “Zest” được cất giấu trong quán Đ tại số E đường H. Tổ công tác cùng H và C1 tiến hành kiểm tra, tạm giữ 05 thùng bìa cát-tông nêu trên, niêm phong và tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với H, trước sự chứng kiến của Nguyễn Mạnh C1 và anh Bùi Văn N1, sinh năm 1977, trú tại khu I, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, cụ thể:

  • - 03 thùng bìa cát-tông bên trong chứa 135 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison", trong mỗi cây thuốc lá có 10 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison”, trong mỗi bao thuốc nhãn hiệu “Raison” có 20 điếu thuốc. Tổng số 135 cây thuốc lá = 1.350 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison” = 27.000 điếu thuốc lá nghi nhập lậu, được niêm phong trong 3 thùng cát-tông ký hiệu A2, A3, A4.
  • - 01 thùng bìa cát-tông bên chứa 50 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Esse change", trong mỗi cây thuốc lá có 10 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Esse change”, trong mỗi bao thuốc nhãn hiệu “Esse change” có 20 điếu thuốc. Tổng số 50 cây thuốc lá = 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Esse change" = 10.000 điếu thuốc lá nghi nhập lậu, được niêm phong trong thùng cát-tông ký hiệu A1.
  • - 01 thùng bia cát-tông bên có chứa 30 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu “Zest”, trong mỗi cây thuốc lá có 10 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Zest”, trong mỗi bao thuốc nhãn hiệu “Zest” có 20 điếu thuốc. Tổng số 30 cây thuốc lá = 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Zest” = 6.000 điếu thuốc lá nghi nhập lậu, được niêm phong trong thùng cát-tông ký hiệu A2.

Tổng số lượng thuốc lá điếu nghi nhập lậu thu giữ của Ngô Thị Thu H2 là 2.150 bao = 43.000 điếu thuốc lá.

Sau đó, tổ công tác đưa Ngô Thị Thu H, người liên quan cùng tang vật về trụ sở Công an phường Đ, thành phố B để làm việc. H thừa nhận toàn bộ số bao thuốc lá điếu tổ công tác Công an tỉnh B thu giữ nêu trên do H nhận vận chuyển thuê để giao trên địa bàn thành phố B để kiếm lời.

Ngày 20/4/2024 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Ngô Thị Thu H tại Khu Y, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh. Quá trình khám xét Cơ quan điều tra không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám định của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh B (PC03), ngày 22/4/2023 Phòng K1 Công an tỉnh B ban hành Kết luận giám định số 1051/KL-KTHS, kết luận:

2.150 bao thuốc lá điếu gửi giám định gồm: 500 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu "Esse change", 1.350 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison” và 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Zest” là thuốc lá nhập lậu thuộc danh mục Nhà nước Việt Nam cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển, tàng trữ.

Quá trình điều tra xác định: Tháng 11/2023, H mở quán ăn Đ tại số E đường H, phường Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh để bán đồ ăn vặt và bán hàng online các sản phẩm như sữa, thực phẩm chức năng.... Tháng 01/2024, thông qua mạng xã hội Facebook H3 biết tài khoản Facebook (H3 không nhớ tên tài khoản Facebook) đăng thông tin bán các mặt hàng. Do có nhu cầu mua nên H3 đã sử dụng số điện thoại 0904.470.xxx của H3 gọi vào số điện thoại 0967.764.xxx trên tài khoản Facebook hỏi mua hàng hóa, thì có một người thanh niên, tự giới thiệu tên là Nguyễn Tuấn K, ở quận B, thành phố Hồ Chí Minh, nên H3 lưu số điện thoại 0967.764.xxx vào danh bạ là “E.kiệt” để liên hệ khi cần mua hàng. Khi H3 liên hệ với K trao đổi mua số lượng, loại hàng hoá nếu giá cả nếu hợp lý thì H3 sẽ thông báo cho K và gửi thông tin để K chuyển hàng theo địa chỉ là “P, địa chỉ H H, khu A, T, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, số điện thoại 0818.422.xxx”, sau khi đóng hàng xong K sẽ mang hàng đến Bưu cục V, quận B, thành phố Hồ Chí Minh để chuyển đến cho H3 theo thông tin địa chỉ trên. Khi hàng hoá về tới Bưu cục V thành phố B thì nhân viên Bưu cục sẽ gọi cho H3 theo số điện thoại 0818.422.xxx để H3 nhận hàng. Do công việc bán đồ ăn tại quán bận, nên H3 thuê người ra lấy hộ hàng, H3 thuê ai lấy hộ hàng đến nay H3 không nhớ. Sau khi nhận được hàng, H3 sẽ sử dụng tài khoản số 0904407118 mở tại Ngân hàng V1 Chi nhánh B1 để thanh toán tiền hàng vào số tài khoản 19036855978011 mang tên Lê Ngọc T mà K gửi cho H3.

Đến giữa tháng 4/2024, K gọi điện cho H3 qua ứng dụng mạng xã hội Z và nói về việc trên địa bàn thành phố B, tỉnh Bắc Ninh có một số khách hàng lấy thuốc lá điếu nhập lậu của K và đang cần người vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, nếu H3 đồng ý vận chuyển giao hàng thuê cho K thì K sẽ trả tiền công cho H3. Do muốn có thêm thu nhập, H3 đồng ý. Kiệt trao đổi với H3, khi nào K gửi thuốc lá điếu nhập lậu ra đến Bưu cục thành phố B thì K sẽ thông báo trước cho H3, sau khi H3 nhận được thuốc lá điếu nhập lậu thì K sẽ gửi thông tin địa chỉ của khách hàng để H3 vận chuyển đến, nếu vận chuyển, giao hàng thành công đến các địa chỉ mà K đã thông tin cho H3 thì K sẽ trả cho H3 số tiền 10.000đ/01 cây thuốc lá. Ngày 18/4/2024, K thông báo về việc chuyển cho H3 01 thùng bìa cát-tông, bên trong chứa thuốc lá điếu nhập lậu qua dịch vụ chuyển phát Vietnam Post, sau khi hàng về tới Bưu cục V thành phố B, do H3 bận bán hàng nên H3 nhờ Nguyễn Mạnh C1, sinh năm 1988, trú tại: khu phố N, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh đến Bưu cục V thành phố B nhận. Sau khi nhận được 01 thùng bìa cát-tông, C1 mang về quán ăn vặt tại E H, phường Đ, thành phố B giao lại cho H3, thời điểm này K chưa gửi thông tin địa chỉ các khách hàng cho H3, nên H3 đã cất 01 thùng bìa cát-tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu này trong quán ăn vặt. Ngày 19/4/2024, K tiếp tục thông báo cho H3 đã chuyển tiếp 04 thùng bìa cát-tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu cho H3. Đến chiều cùng ngày 19/4/2024, H3 được nhân viên Bưu cục V thành phố B thông báo đến nhận hàng hoá. H3 tiếp tục nhờ C1 đi ra Bưu cục V thành phố B nhận và chở hàng về cho H3. C1 đồng ý. Sau khi nhận được 04 thùng bìa cát-tông C1 chở về quán ăn vặt trả H3, khi H3 đang vận chuyển 04 thùng bìa cát-tông chứa thuốc lá điếu nhập lậu vào trong quán ăn vặt của H3 thì bị lực lượng Công an tỉnh B kiểm tra. Tại đây, H3 khai nhận 04 thùng bìa cát-tông bên trong chứa thuốc lá điếu nhập lậu. Nhận thấy hành vi vi phạm của mình, nên H3 đã tự nguyện giao nộp cho lực lương Công an 01 thùng bìa bìa cát-tông bên trong chứa thuốc lá điếu nhập lậu mà H3 đã cất giấu trong quán ăn vặt của H3 trước đó. Sau đó tổ công tác lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng, niêm phong như nêu trên.

Ngày 07/5/2024, Ngô Thị Thu H giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S màu gold, lắp sim số 0904.407.118 đã qua sử dụng của H.

  • - Tiến hành kiểm tra điện thoại nhãn Iphone 6S màu gold, lắp sim số 0904.407.118 xác định: Tại phần danh bạ H lưu số điện thoại 0967.764.xxx của K là “E.kiệt”. Tại ứng dụng Zalo H4 sử dụng tài khoản “Hải Linh”, kiểm tra tin nhắn Zalo theo số điện thoại 0967.764.xxx tên tài khoản là “E.kiệt”, K hủy kết bạn Zalo với H4, trên trang tin nhắn phản ánh nội dụng thời gian “12h50 21/04/2024, Tuấn K đặt thời gian tự xóa là 1 ngày”. Ngoài ra các ứng dụng khác không phát hiện nội dụng liên quan đến vụ án.

Cơ quan điều tra xác minh số thuê bao, số tài khoản kết quả như sau:

  • - Số thuê bao 0967.764.594 đăng ký chính chủ mang tên Nguyễn Thị B, sinh năm 1991, trú tại: ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại Công an xã T xác định: Nguyễn Thị B hiện không có mặt tại địa phương, đi đâu, làm gì địa phương và gia đình không rõ. Tiến hành xác minh tại Công an phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh xác định: Nguyễn Thị B tạm trú tại địa chỉ 28/1, tổ A, khu phố A, phường Đ, quận A, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 3/2024 đến tháng 5/2024 thì chuyển đi, hiện không tạm trú tại địa chỉ trên.
  • - Số tài khoản 19036855978011 mang tên chủ tài khoản là Lê Ngọc T, sinh năm 1988, trú tại: xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi, nơi ở 1 T, phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, xác định: Trên địa bàn phường T, quận T, thành phố Hồ Chí Minh không có địa chỉ số 18/7/8 Trần Văn Ở và không có ai tên Lê Ngọc T, sinh năm 1988 cư trú. Tiến hành xác minh tại công an xã H, huyện N xác định: Lê Ngọc T, sinh ngày 6/6/1988 trú tại xóm A, thôn H, xã H: Hiện tại nhà T không có ai ở nhà, T làm công việc tự do ở thành phố Hồ Chí Minh đi từ thời điểm nào, địa phương không rõ. Qua tra cứu nơi ở hiện tại của T tại địa chỉ 2 đường số E, khu phố H, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Tiến hành xác minh tại Công an phường B xác định: Trên địa bàn phường K có ai tên Lê Ngọc T, sinh năm 1988, trú tại xã H, huyện N, tỉnh Quảng Ngãi sinh sống và làm việc.

Vật chứng:

  • - 05 thùng bìa cát-tông có 03 loại thuốc lá điếu gồm 199 cây thuốc lá (01 cây thuốc lá = 10 bao), Cụ thể: 47 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Esse change; 27 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Zest và 125 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Raison. Tình trạng: Mới, được niêm phong trong 05 thùng bìa cát-tông, ký hiệu từ A1 đến A5.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S, màu gold, lắp sim số 0904.407.118 đã qua sử dụng của H4.

Quá trình điều tra, Ngô Thị Thu H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Với nội dung trên, tại Cáo trạng số: 90/CT-VKSBN-P1 ngày 19/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố bị cáo Ngô Thị Thu H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Thị Thu H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận Cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Vận chuyển hàng cấm” là đúng. Bị cáo khai, do hoàn cảnh khó khăn, muốn kiếm thêm thu nhập nên bị cáo nhận lời vận chuyển thuốc lá người không quen biết trên mạng. Bị cáo không nhận thức được hành vi nghiêm trọng như vậy. Bị cáo rất ân hận về hành vi của mình. Hiện tại, bị cáo rất khó khăn, đã ly hôn chồng, một mình bị cáo nuôi 03 con nhỏ, trong đó, có con chỉ mới 04 tuổi. Bị cáo mong HĐXX khoan hồng cho bị cáo để bị cáo có điều kiện nuôi dạy con cái. Bị cáo hứa không tái phạm và chấp hành nghiêm quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm giữ nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo. Căn cứ vào hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, nhân thân người phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, VKS đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “Vận chuyển hàng cấm hàng cấm”.

Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Ngô Thị Thu H từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là từ 24 tháng đến 30 tháng.

Do bị cáo không có việc làm ổn định; có hoàn cảnh khó khăn, một mình nuôi 03 con nhỏ, không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị ccáo.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) thùng bìa cát-tông mẫu vật hoàn lại sau giám định.

  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Iphone 6S mặt trắng imei: 358567075489589 đã qua sử dụng kèm 01 sim điện thoại của H.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét khoan hổng cho bị cáo được hưởng án treo để được nuôi dạy con cái.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên, CQĐT, VKS đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì nên các quyết định, hành vi của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
  2. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, người làm chứng, vật chứng thu được, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Ngày 18, 19/4/2024, Ngô Thị Thu H đã có hành vi nhận vận chuyển, giao hàng thuê thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison”, “Esse change” và “Zest” nhập lậu của người đàn ông tên Nguyễn Tuấn K cho người khác để nhận tiền công là 10.000đ/01 cây thuốc lá. Số lượng thuốc lá vận chuyển bị bắt quả tang là 185 cây thuốc lá điếu = 1.850 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Raison” và “Esse change”. Ngoài ra H còn tự nguyện giao nộp 30 cây thuốc lá điếu = 300 bao thuốc lá điếu nhãn hiệu “Zest” nhập lậu. Tổng số 215 cây thuốc lá điếu = 2.150 báo thuốc lá điếu lá nhập lậu nhãn hiệu “Raison”, “Esse change” và “Zest”. Do đó, có đủ căn cứ để xét xử bị cáo Ngô Thị Thu H về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
  3. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong việc quản lý, sản xuất, kinh doanh một số mặt hàng hóa có điều kiện. Vì vậy cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
  4. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  5. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Ngô Thị Thu H đã thành khẩn khai báo tỏ thái độ ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, i khoản 1 Điều 51 BLHS.
  6. Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt; lần đầu phạm tội và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; có hoàn cảnh có khăn, một mình nuôi 03 con nhỏ; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có đủ điều kiện để được hưởng án treo theo Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP và Nghị quyết số 01/2020/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về án treo. HĐXX xét thấy không cần bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo tự cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đủ nghiêm để răn đe, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
  7. Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo chưa được hưởng lợi gì, không có việc làm ổn định, có hoàn cảnh khó khăn nên không áp dung hình phạt bổ sung là hình phạt tiền như đề nghị của VKS là phù hợp.
  8. Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) thùng cát-tông mẫu vật hoàn lại sau giám định có ký hiệu lần lượt là A1, A2, A3, A4, A5 được dán kín niêm phong theo quy định. Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Iphone 6S mặt trăng imei: 358567075489589 đã qua sử dụng kèm 01 sim điện thoại của H sử dụng vào mục đích phạm tội.
  9. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
  10. Liên quan đến vụ án: Đối với Nguyễn Mạnh C1 là người chở hàng từ bưu cục V thành phố B về quán ăn vặt cho H, C1 không biết, không được H trao đổi gì về việc H vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, nên Cơ quan điều tra không xử lý đối với C1 là phù hợp. Đối với người gửi thuốc là điếu nhập lậu cho H tên Nguyễn Tuấn K theo H khai, do không có đủ thông tin, nên không có căn cứ để điều tra làm rõ, Cơ quan điều tiếp tục xác minh khi làm rõ sẽ xử lý sau. Đối với Bưu cục V, quận B, thành phố Hồ Chí Minh. Cơ quan điều tra tiến hành xác minh, xác định: Bùi Thị T1 là nhân viên bưu cục đã thiếu trách nhiệm trong việc thực hiện quy trình tiếp nhận hàng hoá của Bưu cục, không kiểm tra hàng hoá có đủ điều kiện để chuyển phát hay không dẫn đến đối tượng lợi dụng sơ hở để vận chuyển thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan điều tra đã có văn bản kiến nghị gửi đến Tổng Công ty B2 xử lý theo quy định của pháp luật. Đối với Bưu cục V2 thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định: Bưu cục V thành phố B chỉ là nơi chuyển phát hàng hoá đến khách hàng, không bắt buộc phải kiểm tra hàng hoá, Cơ quan điều tra không xem xét xử lý là phù hợp.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 191; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 65 Điều 47; BLHS; Điều 106; Điều 136 BLTTHS; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội:

Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Thu H phạm tội “ Vận chuyển hàng cấm”.

Xử phạt Ngô Thị Thu H 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 05/9/2024.

Giao bị cáo Ngô Thị Thu H cho Ủy ban nhân dân phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

  1. Về vật chứng:
  • - Tịch thu tiêu hủy 05 (năm) thùng cát-tông mẫu vật hoàn lại sau giám định được niêm phong theo KLGĐ số 1051/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng KTHS-Công an tỉnh B và biên bản đóng gói, niêm phong và giao, nhận lại đối tượng ngày 21/4/2024, có ký hiệu lần lượt là A1, A2, A3, A4, A5 được dán kín niêm phong theo quy định, có chữ ký của những người tham gia niêm phong và đóng dấu của Cơ quan CSĐT (PC03) - Công an tỉnh B.
  • - Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone Iphone 6S mặt trắng imei: 358567075489589 đã qua sử dụng kèm 01 sim điện thoại của H.

(Tất cả vật chứng được thể hiện theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 119/2024 ngày 12/7/2023 giữa Công an tỉnh B (PC03) với Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).

  1. Buộc bị cáo Ngô Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  1. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND Cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Bắc Ninh
  • - Phòng PC 10, PC01 CA tỉnh Bắc Ninh;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Việt Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 05/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về vận chuyển hàng cấm

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vận chuyển hàng cấm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: NGO THU H PHAM TOI VAN CHUYEN HANG CAM
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger