|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU TỈNH TÂY NINH Bản án số: 105/2024/HS-ST Ngày 26-9-2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thay;
Bà Nguyễn Thị Thanh Bình.
Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Lan, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Kiên Cường – Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2024/TLST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Nguyễn Quốc L, sinh năm 2003 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Văn G, sinh năm 1983, mẹ: bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2024 cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Lê Văn H, sinh năm 2002 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp H, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; cha: Lê Văn H1, sinh năm 1978, mẹ: Trương Thị Kim L1, sinh năm 1983; vợ, con: chưa có; tiền án: Không có; tiền sự: Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 21/QĐ-XPVPHC ngày 20/01/2022 của Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh tây Ninh xử phạt H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, H đã đóng phạt ngày 24/5/2024 (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính; tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 73/QĐ-XPVPHC ngày 02/10/2023 của Trưởng Công an xã T, huyện T, tỉnh tây Ninh xử phạt H số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”, H đã đóng phạt ngày 24/5/2024 (chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính); bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2024 cho đến nay, có mặt.
- Họ và tên: Nguyễn Thanh S, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; cha: Nguyễn Văn L2 (đã chết); mẹ: Nguyễn Thị Ơ, sinh năm 1964; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không có; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 21/01/2024 cho đến nay, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do có nhu cầu sử dụng chất ma túy, ngày 08/10/2023, Nguyễn Quốc L và Nguyễn Thanh S mỗi người hùn số tiền 300.000 đồng đưa cho Lê Văn H đi mua ma túy đá để cùng sử dụng chung. Do không biết chổ mua ma túy nên H gọi điện thoại cho Đỗ Phong V, sinh năm: 1995 ngụ ấp Đ, xã T, huyện T nhờ mua dùm ma túy với số tiền 600.000 đồng. Một lúc sau, V điện thoại lại thông báo cho H ma túy chỉ còn 300.000 đồng và hỏi H có đồng ý mua không, H hỏi ý kiến của L, S thì cả hai đồng ý, H trả lại cho L và S mỗi người 150.000 đồng. H một mình điều khiển xe mô tô biển số 70H1-238.80 chạy đến nhà V thì được V chỉ đường cho H đến gặp anh em người tên P và N1 (không rõ nhân thân, lai lịch) thuộc khu vực xã T để mua ma túy. Sau khi mua ma túy, H cất giấu trong người và điều khiển xe về nhà L thuộc ấp H, xã T, huyện T. Tại phòng khách nhà L, L lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn trong nhà ra để sử dụng ma túy, L đưa cho H cái nỏ thủy tinh để gắn vào dụng cụ, H cắt ma túy đổ vào nỏ thủy tinh và dùng quẹt gas nấu ma túy rồi cùng L và S sử dụng ma túy chung. Sau khi sử dụng ma túy xong thì S mượn cái nỏ bằng thủy tinh của L đem về nhà.
Đến ngày 09/10/2023, L gọi điện thoại nhờ H mua ma túy để sử dụng chung. Sau đó, L chạy đến nhà H đưa cho H 300.000 đồng và kêu H đến nhà S lấy cái nỏ thủy tinh mà S mượn hôm trước. H gọi điện thoại cho S để lấy nỏ thủy tinh thì được S hẹn đến ngã ba C thuộc ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Khi H đến điểm hẹn, S nhờ H mua dùm 200.000 đồng ma túy và hẹn khi nào H mua ma túy xong thì S sẽ đem nỏ thủy tinh đến để sử dụng chung ma túy. S chỉ đưa cho H số tiền 50.000 đồng, còn 150.000 đồng sẽ chuyển khoản sau. Sau đó, H điều khiển xe mô tô biển số 70H1-238.80 chở V đến gặp người tên P thuộc xã T để mua ma túy. Khi đến nơi, H gọi điện thoại yêu cầu S chuyển khoản số tiền 150.000 đồng cho người tên P. Sau khi S chuyển tiền xong, V đi vào gặp P mua ma túy với số tiền 500.000 đồng, P đưa cho V 01 khẩu trang màu xanh được cuộn lại bên trong có 01 đoạn ống hút có chứa ma túy. Sau khi mua được ma túy, H điều khiển xe mô tô chở V đi về nhà L, khi đến khu vực ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang H, còn V vứt bỏ ma túy xuống đường rồi chạy thoát.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, Nguyễn Quốc L, Nguyễn Thanh S và Lê Văn H thừa nhận hành vi phạm tội của mình và khai ra lần phạm tội trước đó.
Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong cơ thể ngày 10/10/2023 đối với Nguyễn Quốc L, Nguyễn Thanh S và Lê Văn H thể hiện: Dương tính với chất ma túy loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số 1597/KL-KTHS ngày 15/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Mẫu tinh thể rắn màu trắng (ký hiệu M1) bên trong 01 đoạn ống hút nhựa được hàn kín gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, khối lượng 0,243 gam.
Mẫu 01 cái nỏ thủy tinh không có chứa gì (ký hiệu M2) gửi đến giám định là chất ma túy; loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng vì mẫu ở dạng vì vết.
Kết quả thu giữ và xử lý vật chứng:
- - Xe mô tô biển số 70H1-238.80 của ông Lê Văn H1 (cha bị cáo H) không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là ông H1.
- - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1597/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T, Trợ lý giám định Lê Quốc T1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) là Methamphetamine có khối lượng 0,1674 gam.
- - 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1597/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T, Trợ lý giám định Lê Quốc T1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) cái nỏ thủy tinh không chứa gì.
- - Thu giữ của bị cáo L 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel màu xanh, số IMEL 1: 350133432681281.
- - Thu giữ của bị cáo H 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo màu xanh, số IMEL 1: 861516040814751.
- - Thu giữ của bị cáo S 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEL 1: 869447051961038
Kê biên tài sản: Các bị cáo Nguyễn Quốc L, Nguyễn Thanh S và Lê Văn H không có tài sản nên không tiến hành kê biên.
Tại bản Cáo trạng số 103/CT-VKSTC ngày 09/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã truy tố các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Quốc L và Nguyễn Thanh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Lê Văn H, Nguyễn Quốc L và Nguyễn Thanh S về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Quốc L3 từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 07 năm 06 tháng tù đến 08 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255; điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S từ 07 năm tù đến 07 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tổng hợp hình phạt và không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo không tranh luận.
Lời nói sau cùng của các bị cáo: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Tây Ninh, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi của các bị cáo thể hiện: Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Quốc L, Lê Văn H và Nguyễn Thanh S đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ do Cơ quan điều tra thu thập có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, đã có đủ căn cứ xác định: Ngày 09/10/2023, Nguyễn Quốc L, Lê Văn H và Nguyễn Thanh S cùng có hành vi rủ nhau mua ma túy về sử dụng, bị cáo L và bị cáo S hùn tiền, bị cáo H đi mua ma túy, khi trên đường mua ma túy về chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang tại khu vực ấp Đ, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh và thu giữ 0,243 gam chất ma túy loại Methamphetamin. Ngoài ra, các bị cáo còn khai nhận, ngày 08/10/2023, tại nhà của bị cáo L thuộc khu vực ấp H, xã T, huyện T, Nguyễn Quốc L, Nguyễn Thanh S và Lê Văn H đã thực hiện hành vi cùng nhau tổ chức sử dụng phép chất ma túy, trong đó, bị cáo S và bị cáo L cùng nhau hùn tiền, bị cáo H đi mua ma túy.
Do đó, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Nguyễn Quốc L, Lê Văn H và Nguyễn Thanh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự như luận tội của vị Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[3] Vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy được pháp luật hình sự bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương. Ma túy là hiểm họa của xã hội, làm lây lan các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, làm suy đồi, băng hoại một bộ phận dân cư, đặc biệt là thanh thiếu niên, gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển giống nòi dân tộc. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là vấn đề hết sức phức tạp, nhức nhối của xã hội, tiêu tốn nhiều tiền của, công sức của Nhà nước để giải quyết những hậu quả của tệ nạn này. Khi thực hiện tội phạm các bị cáo biết rõ việc Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà các bị cáo vẫn cố tình thực hiện. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự do chính hành vi của mình gây ra và cần xử lý nghiêm.
[4] Khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo tự thú những lần phạm tội chưa bị phát hiện; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm r, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Trong vụ án này các bị cáo phạm tội trong trường hợp đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết chặt chẽ. Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, bị cáo L là người tích cực nhất, dụng cụ sử dụng ma túy là của bị cáo, bị cáo dùng địa điểm là nhà của bị cáo và cùng hùn tiền với bị cáo S để mua ma túy sử dụng nên là người chịu trách nhiệm hình sự cao nhất, bị cáo H có nhân thân xấu, là người liên hệ để mua ma túy nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự thấp hơn bị cáo L nhưng cao hơn bị cáo S, bị cáo S chỉ hùn tiền với bị cáo L để mua ma túy về sử dụng nên chịu trách nhiệm hình sự thấp nhất. Đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, các bị cáo chưa kịp sử dụng thì bị bắt quả tang nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự bằng nhau. Xét thấy, với hành vi phạm tội như trên các bị cáo cần phải xử phạt tù, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định nhằm giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung cho xã hội.
[6] Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với các bị cáo do các bị cáo không có tài sản.
[7] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- [7.1] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel màu xanh, số IMEL 1: 350133432681281 của bị cáo Nguyễn Quốc L là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- [7.2] Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEL 1: 861516040814751 của bị cáo Lê Văn H là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- [7.3] Đối với 01 (một) điện thoại hiệu 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEL 1: 869447051961038 của bị cáo Nguyễn Thanh S là phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước.
- [7.4]. Đối với 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1597/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T, Trợ lý giám định Lê Quốc T1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) là Methamphetamine có khối lượng 0.1674 gam và 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1597/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T, Trợ lý giám định Lê Quốc T1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) cái nỏ thủy tinh không chứa gì là công cụ các bị cáo dùng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- [7.5] Đối với 01 xe Xe mô tô biển số 70H1-238.80 của ông Lê Văn H1 (cha bị cáo Lê Văn H) không liên quan đến vụ án nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho ông H1 là phù hợp.
[8] Đối với người tên P bán ma túy cho bị cáo H, do chưa xác định được nhân thân, địa chỉ nên chưa làm việc được, khi nào xác định được sẽ làm rõ xử lý sau.
[9] Đối với Đỗ Phong V có hành vi giúp bị cáo H mua trái phép chất ma túy, quá trình điều tra V không có ở địa phương, đến thời điểm hiện nay Cơ quan Cảnh sát điều tra chưa làm việc được, chỉ có lời khai của H chưa đủ căn cứ xử lý hình sự đối với V, khi nào làm việc được V sẽ xử lý sau.
[10] Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Quốc L, Lê Văn H và Nguyễn Thanh S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc L 08 (tám) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc L 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Quốc L phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là (09) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/01/2024.
- Căn cứ vào các điểm b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Lê Văn H 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Lê Văn H phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là (08) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/01/2024.
- Căn cứ vào các điểm b khoản 2 Điều 255; các điểm r, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 07 (bảy) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 01 (một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Căn cứ vào Điều 55 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là (08) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 21/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Itel màu xanh, số IMEL 1: 350133432681281 của bị cáo Nguyễn Quốc L; 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEL 1: 861516040814751 của bị cáo Lê Văn H và 01 (một) điện thoại di động hiệu Oppo, số IMEL 1: 869447051961038 của bị cáo Nguyễn Thanh S.
- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1597/gói 1, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T, Trợ lý giám định Lê Quốc T1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 bịch nylon chứa chất tinh thể rắn màu trắng (kí hiệu M1) là Methamphetamine có khối lượng 0,1674 gam và 01 (một) bì thư được niêm phong ghi số 1597/gói 2, có chữ ký của Giám định viên Võ Quốc T, Trợ lý giám định Lê Quốc T1 và dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh T, bên trong có 01 (một) cái nỏ thủy tinh không chứa gì.
(Vật chứng đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/9/2024).
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 99 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Nguyễn Quốc L, Lê Văn H và Nguyễn Thanh S, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Quốc L, Lê Văn H và Nguyễn Thanh S có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh để xét xử phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Văn Cương |
Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 105/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: vu an hinh su bi cao L cung dong pham
