TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 105/2024/HS-ST Ngày: 26 - 7 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Thành
Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Việt
Bà Lê Thị Xuân Đào
Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Hồng Diễm - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 103/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 106/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị H, Sinh ngày 04/10/1980.
Tên gọi khác: Trần Thị B, Nguyễn Thị L; Giới tính: nữ; Nơi sinh: Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi cư trú: Số B đường Â, phường I, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở: Không có nơi ở cố định; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; chức vụ trước khi phạm tội: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; H1 và tên cha: Trần Văn T, sinh năm 1958 (sống); Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị L1, sinh năm 1963 (sống); A, chị em ruột: Có 02 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1985; Chồng: Không xác định; Con: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2000, nhỏ nhất sinh năm 2018; Tiền sự: Không; Tiền án: Không;
Nhân thân: Tại Quyết định số 00030556/QĐ-XPHC ngày 17/01/2005 của Công an Thành phố H quyết định xử phạt Nguyễn Thị H 100.000đồng về hành vi Trộm cắp vặt. Ngày 17/01/2005, H chấp hành xong quyết định.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 608/1998/HSST ngày 11/4/1998 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xử phạt Nguyễn Thị H (Trần Thị B) 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản của công dân. Ngày 04/8/1998, H chấp hành xong hình phạt tù, tháng 10 năm 1999, H chấp hành xong án phí.
2
Bị cáo Nguyễn Thị H đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/10/2023 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Long An; bị cáo có mặt.
Bị hại:
- Công ty C2.
Địa chỉ trụ sở: A T, Phường T, Quận A, TP Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn Hiểu E – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông E là: Bà Mai Kim Y – Nhân viên, theo Giấy ủy quyền ngày 14/3/2024 và ông Nguyễn Đình Q – Giám đốc. Theo Giấy ủy quyền số 128/2022/AK/UQ ngày 27/7/2022.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Q là: Bà Đào Trần M, sinh năm 1992. Địa chỉ thường trú: Số A L, khu phố D, phường P, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi ở hiện nay: Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An. Theo Giấy ủy quyền ngày 08/3/2024. Bà Mai Kim Y, bà Đào Trần M có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
- Công ty cổ phần T4.
Địa chỉ trụ sở: Số A T, phường T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Văn T1 - Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền của ông T1 là: Ông Võ Thành C, sinh năm 1995. Địa chỉ: Số A P, phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo giấy ủy quyền ngày 18/7/2023. Ông Võ Thành C có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Bà Mai Kim Y, sinh năm 1997. Địa chỉ: ấp N, xã Đ, huyệqn Đ, tỉnh Long An.
Người làm chứng: Bà Trần Thanh T2, sinh năm 1997; Ông Đoàn Thanh T3, sinh năm 1956; Bà Nguyễn Thị Yến N, sinh năm 1988, Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 05 giờ ngày 01/10/2023, Nguyễn Thị H thuê xe mô tô của người đàn ông không xác định nhân thân lai lịch chở đi từ khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực huyện Đ, tỉnh Long An tìm tài sản chiếm đoạt đem về nhà để sử dụng.
Đến khoảng 07 giờ 00 phút cùng ngày 01/10/2023, H đi đến Công ty cổ phần T4 thuộc ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An và đi vào bên trong lấy giỏ sách bằng nhựa đi đến các dãy trưng bày hàng hóa, H quan sát xung quanh thấy không có người trông coi nên lén lút lấy 02 bịch cà phê nhãn hiệu G7, loại 3 in
3
1, 50 gói 16g; 02 chai sữa nhãn hiệu ANSURE Gold hương V, 237 ml, loại nhỏ bỏ vào túi nilon đã chuẩn bị từ trước rồi mang ra bên ngoài. Sau đó, H đi đến Công ty cổ phần C2 cách Công ty cổ phần T4 khoảng 02m lấy 01 hộp sữa bột nhãn hiệu GLUCERNA hương vani, 850g bỏ vào túi nilon rồi mang ra bên ngoài và thuê xe mô tô chở đi về nhà trọ của H tại Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu và sử dụng hết.
Đến ngày 03/10/2023, Nguyễn Thị H đến Cơ quan Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú hành vi phạm tội như trên. Cơ quan Cảnh sát điều tra không thu giữ được tài sản H chiếm đoạt để xử lý.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 cái áo khoác nữ màu xanh không nhãn hiệu.
Tại Kết luận định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, kết luận:
- - 02 bịch cà phê nhãn hiệu G7 loại 3 in 1, 50 gói 16g, trị giá 284.000 đồng;
- - 02 chai sữa nhãn hiệu ANSURE Gold hương Vani, 237ml, trị giá 108.386 đồng.
- - 01 hộp sữa bột nhãn hiệu GLUCERNA hương Vani, 850g, trị giá 785.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 1.177.386 đồng.
Ngoài ra, kết quả điều tra xác định Nguyễn Thị H còn thực hiện lần chiếm đoạt tài sản như sau: Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 23/9/2023, Nguyễn Thị H thuê xe mô tô của người đàn ông không xác định nhân thân lai lịch chở đi từ khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đến khu vực huyện Đ, tỉnh Long An tìm tài sản chiếm đoạt đem về nhà để sử dụng.
Đến khoảng 08 giờ 00 phút cùng ngày 23/9/2023, H đến Công ty cổ phần T4 thuộc Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, H đi vào bên trong lấy giỏ bằng nhựa đi đến các dãy trưng bày hàng hóa, H lén lút lấy 02 bịch cà phê nhãn hiệu Nescafe, loại đen đá 560g; 04 bịch cà phê nhãn hiệu Trung Nguyên, loại I 500g; 01 bịch cà phê nhãn hiệu G7, loại 3 in 1, bịch 50 sachets 16g, 01 bịch cà phê nhãn hiệu cà phê phố loại Maccoffee 720g bỏ vào bịch nilon đã chuẩn bị từ trước rồi mang ra bên ngoài, sau đó H đi đến Công ty cổ phần C2 cách Công ty cổ phần T4 khoảng 02m, H đi vào bên trong lấy 01 lon sữa nhãn hiệu GLUCERNA, màu tím, loại 850g; 02 lon sữa bột nhãn hiệu Ensure gold StrengthPro, màu xanh, loại 850g bỏ vào bịch nilon rồi mang ra để lên xe mô tô của người đàn ông H thuê chở H đang chờ ở phía trước. Lúc này, Hồng cởi áo khoác màu tím đang mặc trên người và lấy áo khoác màu xanh đã chuẩn bị từ trước mặc vào và tiếp tục đi vào bên trong Công ty cổ phần T4 đi đến các quầy trưng bày hàng hoá lấy 04 bịch cà phê nhãn hiệu Trung Nguyên, loại I 500g; 03 lon bia nhãn hiệu Heineken, loại Sleek 330ml bỏ vào bịch nilon đã chuẩn bị từ trước rồi mang ra bên ngoài và đi đến Công ty cổ phần C2 tiếp tục lấy 02 lon sữa bột nhãn hiệu Ensure gold, màu xanh, loại 850g bỏ vào bịch
4
nilon mang ra ngoài. Sau đó, H thuê xe mô tô của người đàn ông không xác định nhân thân lai lịch chở đi về nhà trọ của H tại Thành phố Hồ Chí Minh cất giấu và sử dụng hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số 121/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ, tỉnh Long An, kết luận:
- - 01 bịch cà phê nhãn hiệu G7 loại 3 in 1, bịch 50 sachets 16g, trị giá 136.500 đồng;
- - 02 bịch cà phê nhãn hiệu Nescafe, loại đen đá 560g, trị giá 228.000 đồng;
- - 08 bịch cà phê nhãn hiệu Trung Nguyên, loại I 500g, trị giá 608.000 đồng;
- - 01 bịch cà phê phố loại Maccoffee 720g, trị giá 128.000 đồng;
- - 03 lon bia nhãn hiệu Heineken loại Sleek 330ml, trị giá 62.000 đồng;
- - 01 lon sữa bột nhãn hiệu GLUCERNA, màu tím, 850g, trị giá 822.000 đồng;
- - 02 lon sữa bột nhãn hiệu Ensure Gold StrengthPro, màu xanh, 850g, trị giá 1.746.000 đồng;
- - 02 lon sữa bột nhãn hiệu Ensure Gold, màu xanh, 850g, trị giá 1.738.000 đồng.
Tổng trị giá tài sản là 5.468.500 đồng.
Tại bản cáo trạng số 102/CT-VKSĐH ngày 10 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hoà, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thị H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H trình bày: Bị cáo không có đăng ký khai sinh nên tên bị cáo có tên gọi khác là Trần Thị B và Nguyễn Thị L. Do không có tiền tiêu xài nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, bị cáo đồng ý theo biên bản định giá, đồng ý bồi thường theo yêu cầu của các bị hại, bị cáo đồng ý tiêu hủy chiếc áo khoác nữ màu xanh của bị cáo. Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa truy tố, bị cáo không tranh luận chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên sau khi phân tích tính chất và mức độ nguy hiểm xã hội của hành vi vi phạm pháp luật mà bị cáo Nguyễn Thị H gây ra; đồng thời căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo Nguyễn Thị H mức hình phạt từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
5
Về xử lý tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu 01 cái áo khoác nữ màu xanh không nhãn hiệu.
Phần trách nhiệm dân sự: Đại diện cửa hàng B1, thuộc ấp N, xã Đ là Nguyễn Thành C1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 392.386đồng và cửa hàng B1 thuộc Ô, khu A, thị trấn Hậu Nghĩa là N yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 1.162.500đồng là phù hợp nên chấp nhận.
Đại diện Công ty cổ phần C2, thuộc ấp N, xã Đ là Mai Kim Y yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 785.000đồng là phù hợp nên chấp nhận.
Đại diện Công ty cổ phần C2, thuộc Ô, khu A, thị trấn Hậu Nghĩa là Đào T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 4.306.000đồng là phù hợp nên chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[1.2] Tại phiên tòa, đại diện ủy quyền bị hại có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng vắng mặt tuy nhiên những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra và việc vắng mặt này không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2]. Về nội dung vụ án:
[2.1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Thị H tại phiên tòa phù hợp với camera thu giữ được tại hiện trường, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của đại diện các bị hại, cũng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong quá trình điều tra, phù hợp với biên bản vụ việc với bản kết luận về định giá tài sản số 120/KL-HĐĐGTS ngày 06/10/2023 và số 121/KL-HĐĐGTS ngày 09/10/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Đ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án được thẩm định tại phiên tòa, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ xác định: Do muốn
6
kiếm tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 01/10/2023, tại Công ty cổ phần T4 và Công ty cổ phần C2 thuộc khu vực ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Thị H có hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty cổ phần T4 và Công ty cổ phần C2 gồm: 02 bịch cà phê nhãn hiệu G7 loại 3 in 1, bịch 50 gói 16g; 02 chai sữa nhãn hiệu Ansure Gold hương Vani, 237ml; 01 hộp sữa bột nhãn hiệu GLUCERNA hương Vani, 850g. Tổng trị giá tài sản là 1.177.386 đồng. Đến ngày 03/10/2023, Nguyễn Thị H đến Công an xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An đầu thú về hành vi phạm tội như trên.
Ngoài ra, khoảng 08 giờ 00 phút ngày 23/9/2023, tại Công ty cổ phần T4 và Công ty cổ phần C2 thuộc khu vực Ô, khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An, Nguyễn Thị H có hành vi lén lút chiếm đoạt của Công ty cổ phần T4 và Công ty cổ phần C2 gồm: 01 bịch cà phê nhãn hiệu G7 loại 3 in 1, bịch 50 gói 16g; 02 bịch cà phê nhãn hiệu Nescafe, loại đen đá 560g; 08 bịch cà phê nhãn hiệu Trung Nguyên, loại I 500g; 01 bịch cà phê Phố loại Maccoffee 720g; 03 lon bia nhãn hiệu Heineken loại Sleek 330ml; 01 lon sữa bột nhãn hiệu GLUCERNA, màu tím, 850g; 02 lon sữa bột nhãn hiệu Ensure Gold StrengthPro, màu xanh, 850g; 02 lon sữa bột nhãn hiệu Ensure Gold, màu xanh, 850g. Tổng trị giá tài sản là 5.468.500 đồng.
Tổng trị giá tài sản bị cáo Nguyễn Thị H chiếm đoạt trong các ngày 23/9/2023 và 01/10/2023 là 6.645.886 đồng.
Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Thị H đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự nên Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh Long An truy tố bị cáo Nguyễn Thị H theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan sai.
[2.2]. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản mà bị cáo Nguyễn Thị H gây ra là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi này đã xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác, quyền này được pháp luật hình sự bảo vệ, nếu người nào cố tình xâm hại thì sẽ bị pháp luật trừng phạt. Hành vi phạm tội của bị cáo không những xâm hại trực tiếp đến tài sản đang thuộc sở hữu của các bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương là mầm móng của nhiều hành vi phạm tội khác.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của bị cáo là ảnh hưởng xấu đến trật tự công cộng nhưng bị cáo vẫn bất chấp thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo cần được xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự, có mức án phù hợp, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng trừng phạt, giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
[3]. Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét cho bị cáo hưởng tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[3.1]. Về tình tiết giảm nhẹ: Trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Nguyễn Thị H thành khẩn khai báo hành vi phạm tội, có ý thức ăn năn hối
7
cải và phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, sau khi thực hiện tôi phạm bị cáo đầu thú là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự nên khi áp dụng hình phạt cho bị cáo có xem xét giảm nhẹ một phần.
[3.2]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Về nhân thân bị cáo Nguyễn Thị H vào năm 1998 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 12 tháng tù về tội trộm cắp tài sản. Vào năm 2005, bị cáo Nguyễn Thị H bị xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí minh xử phạt 100.000đồng về hành vi trộm cắp tài sản nên Hội đồng xét xử cũng cần phải xem xét khi lượng hình.
[4]. Xét lời đề nghị của Kiểm sát viên về áp dụng hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
[5]. Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn, không có nghề nghiệp nên Hội đồng xét xử thống nhất không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Thị H là phù hợp.
[6]. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Đối với 01 cái áo khoác nữ màu xanh không nhãn hiệu là tài sản của bị cáo Nguyễn Thị H, tại phiên tòa bị cáo H không có nhu cầu nhận lại nên Hội đồng xét xử đề nghị tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
[7]. Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện cửa hàng B1, thuộc ấp N, xã Đ là Nguyễn Thành C1 yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 392.386đồng và cửa hàng B1 thuộc Ô, khu A, thị trấn Hậu Nghĩa là N yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 1.162.500đồng. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đại diện Công ty cổ phần C2, thuộc ấp N, xã Đ là Mai Kim Y yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 785.000đồng và Đại diện Công ty cổ phần C2, thuộc Ô, khu A, thị trấn Hậu Nghĩa là Đào T yêu cầu bị cáo Nguyễn Thị H bồi thường số tiền 4.306.000đồng. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Thị H đồng ý bồi thường nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8]. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
8
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 và Điều 50 Bộ luật Hình sự;
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 01 (Một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 03/10/2023
Áp dụng khoản 1, khoản 3 Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Thị H 45 (bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/7/2024) để đảm bảo thi hành án.
2. Về tang vật chứng: Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy đối với 01 cái áo khoác nữ màu xanh không nhãn hiệu.
Tang vật trên do Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Hòa, tỉnh Long An đang quản lý theo Biên bản giao nhận vật chứng số 59-16/02/2024 ngày 15 tháng 02 năm 2024.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự và các Điều 584, Điều 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Công ty cổ phần C2 tổng số tiền 5.091.000đồng (trong đó cụ thể, Công ty cổ phần C2 cửa hàng tại: ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An số tiền là 785.000đồng và Công ty cổ phần C2 cửa hàng tại: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An số tiền là 4.306.000đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải có trách nhiệm bồi thường cho bị hại Công ty cổ phần T4 tổng số tiền 1.554.886đồng ( trong đó cụ thể, Công ty cổ phần T4 cửa hàng tại: ấp N, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Long An số tiền là 392.000đồng và Công ty cổ phần T4 cửa hàng tại: Ô, Khu A, thị trấn H, huyện Đ, tỉnh Long An số tiền là 1.162.500đồng)
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị H phải nộp 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
4. Án xử sơ thẩm công khai. Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng
9
mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Thành |
Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 26/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 105/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HÒA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị H phạm tội trộm cắp tài sản
