Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN QUỲNH PHỤ

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày 08-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Duyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Vũ Thị Ngân;
  2. Ông Đặng Ngọc Tân.

- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Minh Thành - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Vũ Quỳnh Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 102/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST- HS ngày 25 tháng 10 năm 2024, đối với:

Bị cáo Đinh Công T sinh ngày 06/9/1982; tại: huyện Q, tỉnh Thái Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã Q, huyện Q,tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Đinh Cao T1, sinh năm 1956 và bà: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1956; vợ: Nguyễn Thị N sinh năm 1983; con: Có 02 con, con lớn sinh năm 2007, con nhỏ sinh năm 2010

Tiền sự: Không;

Tiền án: Không;

Nhân thân: Từ tháng 02/2001 đến tháng 01/2004 tham gia nghĩa vụ quân sự; Quyết định số 1159/QĐ-UBND ngày 10/6/2013 của Uy ban nhân dân huyện Q quyết định áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng, ngày 14/6/2014 chấp hành xong. Quyết định số 01/QĐ-TA ngày 11/5/2016 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn 24 tháng, ngày 11/6/2028 chấp hành xong; Bản án số 48/2019/HS-ST ngày 27/6/2019 của Toà án nhân dân huyện Quỳnh Phụ xử phạt 01 năm 06 tháng tù, chấp hành xong hình phạt tù ngày 20/7/2020, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

Bị tạm giữ từ ngày 19/7/2024 đến ngày 25/7/2024 chuyển tạm giam; hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T.

Người chứng kiến:

- Anh Vũ Thanh T3, sinh năm 1983

Địa chỉ: Tổ A, thị trấn Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình

- Anh Vũ Văn B, sinh năm 1989

Địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, Thái Bình.

(Tại phiên tòa có mặt bị cáo; vắng mặt anh T3 và anh B)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 30 ngày 19/7/2024, tại khu vực chợ H thuộc thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, tổ công tác Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm ma túy Công an tỉnh T phối hợp với Công an xã Q, huyện Q phát hiện Đinh Công T đang đi bộ một mình, có biểu hiện liên quan đến ma túy theo nguồn tin quần chúng nhân dân phản ánh. Trước sự chứng kiến của đại diện chính quyền địa phương và anh Vũ Thanh T3 cùng anh Vũ Văn B, T đã tự giác lấy ra từ túi quần bên trái phía trước đang mặc giao nộp cho tổ công tác 01 túi nilon trong suốt có mép cài viền màu đỏ đựng 02 gói giấy trắng có dòng kẻ chứa chất bột màu trắng dạng cục (qua giám định là Heroine có khối lượng là 0,2192 gam) và khai nhận đó là 02 gói Heroine của T mua để sử dụng cho bản thân. Kiểm tra người Trìu, phát hiện, quản lý tại túi quần bên phải phía trước T đang mặc 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI vỏ màu xanh đã cũ. Tổ công tác đã đưa T cùng vật chứng và mời những người chứng kiến về trụ sở Công an xã Q, huyện Q lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong vật chứng theo quy định của pháp luật.

Khám xét khẩn cấp nơi ở của Đinh Công T không thu giữ tài sản, đồ vật gì liên quan đến hành vi phạm tội.

Bản kết luận giám định số 1137/KL - KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng K, Công an tỉnh T: “Mẫu vật giám định là ma tuý, loại Heroin (Heroine), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định 57/2022/NĐ - CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma tuý và tiền chất; có khối lượng là 0,2192 gam (không phẩy hai nghìn một trăm chín mươi hai gam). Heroine STT: 9, Danh mục IA, phụ lục kèm theo Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ".

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đều khai nhận: Bị cáo là người nghiện ma tuý. Khoảng 16 giờ ngày 19/7/2024, T đi bộ ra khu vực Cầu T thuộc thị trấn Q, huyện Q mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi, không biết tên, địa chỉ, 01 túi nilon chứa 02 gói Heroin với giá 400.000 đồng rồi giấu vào túi quần bên trái phía trước đang mặc và đi bộ tìm chỗ vắng để sử dụng. Khi đi đến khu vực chợ H, thuộc thôn H, xã Q, huyện Q thì bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang

Bản Cáo trạng số 110/CT-VKSQP ngày 22/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ, tỉnh Thái Bình truy tố Đinh Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Đinh Công T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/7/2024; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo;

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu để tiêu hủy toàn bộ vật chứng là 02 gói Heroin thu được của bị cáo trong phong bì niêm phong hoàn mẫu vật sau giám định. Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI vỏ màu xanh đã cũ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; bị cáo nói lời sau cùng: nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, rất ân hận về hành vi mà mình đã thực hiện và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận do nghiện ma túy nên bị cáo đã đi mua ma túy về sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị phát hiện bắt giữ. Bị cáo đã đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả và được chứng minh bằng biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng do Công an tỉnh T lập ngày 19/7/2024, lời khai của người chứng kiến, bản kết luận giám định cùng toàn bộ các tài liệu thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Do đó có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 19/7/2024, tại khu vực chợ H thuộc thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Thái Bình, Đinh Công T đã có hành vi cố ý cất giấu tại túi quần bên trái, phía trước đang mặc 02 gói Heroin có khối lượng 0,2192 gam (không phẩy hai nghìn một trăm chín mươi hai gam), với mục đích để sử dụng cho bản thân, bị Công an tỉnh T phát hiện, bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tội tàng trữ trái phép chất ma túy

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

c) Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Phụ truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thấy: Tệ nạn ma túy đang là mối quan tâm, nhức nhối của toàn xã hội, ma túy làm ảnh hưởng đến kinh tế, sức khỏe, làm suy thoái nòi giống và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác, bị cáo hiểu rõ tác hại của ma túy nhưng vì nghiện ma túy nên bị cáo đã phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật với mức án tương xứng hành vi bị cáo đã gây ra, việc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để chấp hành hình phạt là cần thiết để cải tạo, giáo dục bị cáo riêng và có tác dụng trong đấu tranh phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành thật khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, do đó bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh bắt buộc, cũng đã bị áp dụng đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc và đã bị kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuỷ” nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện mà lại tiếp tục phạm tội, điều đó thể hiện ý thức coi thường kỷ cương, pháp luật của bị cáo.

Từ những phân tích nêu trên nên về hình phạt áp dụng đối với bị cáo như mức Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo lao động tự do, không có thu nhập ổn định bị cáo tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng cho bản thân vì vậy Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Do không có căn cứ xác định người đã bán ma túy cho bị cáo nên cơ quan điều tra không có cơ sở để điều tra xử lý.

[7] Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ của bị cáo 02 túi chứa chất bột màu trắng dạng cục, kết quả giám định kết luận là ma túy loại Heroine và hoàn trả mẫu vật sau giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy số ma túy đã thu giữ còn lại sau giám định; 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, vỏ màu xanh đã qua sử dụng là tài sản của bị cáo không sử dụng vào việc phạm tội nên trả lại bị cáo. Việc xử lý vật chứng như trên là phù hợp quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 và điểm b khoảm 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là phù hợp với khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1.Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đinh Công T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2.Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 50, điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Đinh Công T 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 19/7/2024.

3.Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46 và điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • - Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, vỏ màu xanh đã qua sử dụng.
  • - Tuyên tịch thu tiêu hủy 0,1580 gam (Không phẩy một nghìn năm trăm tám mươi gam) mẫu gửi giám định và toàn bộ bao gói thu của Đinh Công T trong phong bì hoàn trả mẫu vật sau giám định ghi số 1137/KL-KTHS của Phòng K Công an tỉnh T.

Các vật chứng trên đang được quản lý tại Chi Cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Phụ, theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản giữa Công an và Chi Cục Thi hành án dân sự ngày 23/10/2024.

4.Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 21 và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo Đinh Công T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

5.Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Đinh Công T có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận

  • - Bị cáo;
  • - VKSND h. Quỳnh Phụ;
  • - VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Công an & Chi cục THADS h. Quỳnh Phụ;
  • - TAND & Sở Tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - Cơ quan THA hình sự CA h. Quỳnh Phụ;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Thái Bình;
  • - UBND xã Quỳnh Nguyên, h. Quỳnh Phụ;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Thị Duyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 08/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma túy (hình sự)

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy (Hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 08/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH PHỤ, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Đinh Công T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger