Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày: 30-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tô Đông Đức

Các Hội thẩm nhân dân:

-Ông Trần Phương Tín

-Ông Trần Nghiệp Hồng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Thanh Xuân – Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trúc Giang - Kiểm sát viên.

Trong ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại Phòng xử A trụ sở Tòa án nhân dân Quận 11, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 105/FORMTEXT 20/TLST-HS ngày 10 tháng 10 năm 204 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/FORMTEXT 204/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 1 năm 204 đối với bị cáo:

Nguyễn Duy T; sinh năm 9 tại Thành phố H đăng ký thường trú: 107/16/3 L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm công; trình độ văn hoá (học vấn): 7/12dân tộc: Kinh; giới tính: Namtôn giáo: FORMTEXT Khôngquốc tịch: Việt Namcon ông Nguyễn Văn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị V; hoàn cảnh gia đình: chưa có vợ con; tiền án: Ngày 10/9/2020, Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 03 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 74/2020/HSST. Chấp hành xong ngày 10/9/2023. Chưa xóa án tích do chưa hết thời hạn xóa án tích lại tiếp tục phạm tội vào ngày 12/4/2024, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • Ngày 23/5/2005, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 793/2005/HSST. Chấp hành xong ngày 28/12/2005. Đã xóa án tích.
  • Ngày 05/4/2007, Tòa án nhân dân Quận 6 xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 48/2007/HSST. Chấp hành xong ngày 23/4/2009. Do lúc phạm tội bị can dưới 18 tuổi nên hiện nay đã xóa án tích.
  • Ngày 23/12/2011, Tòa án nhân dân Quận 11 xử phạt 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản” theo bản án số 171/2011/HSST. Chấp hành xong ngày 05/8/2015. Đã xóa án tích.

Bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2024; Bị cáo có mặt tại phiên tòa..

Người bị hại: Anh Đỗ Thanh T2; sinh năm 1986; địa chỉ: 1 ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (Có đơn xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19 giờ 30 ngày 12/4/2024, nhận được thông tin Nguyễn Duy T đang dùng dao đe dọa người dân tại hẻm A L, Phường A, Quận A, Ban chỉ huy Công an P, Quận A phân công Đại úy Đỗ Thanh T2 là Cảnh sát khu vực cùng 02 đồng chí Công an P, Quận A và 01 bảo vệ dân phố đi mô tô đến giải quyết sự việc. Khi đi làm nhiệm vụ tất cả đều mặc quân phục Công an và đồng phục bảo vệ dân phố.

Khi đồng chí T2 cùng các đồng chí Công an, bảo vệ dân phố đi vào hẻm A L, Phường A, Quận A thì T phát hiện nên T chạy bộ ra khỏi nhà 1 L, Phường A, Quận A đến xe hủ tiếu gần đó lấy 01 dao thái lan để chống trả. Khi chạy đến đầu hẻm, T thấy anh T2 cùng những người khác mặc đồ Công an, T cầm dao rượt đuổi anh T2 đến trước nhà A L, Phường A, Quận A thì đuổi kịp. T dùng dao đâm anh T2 nhiều cái (không nhằm cụ thể vị trí nào), trong đó trúng vai trái của anh T2 01 lần làm anh T2 té ngã rồi T bỏ chạy. Anh Tú được đưa đi bệnh viện cấp cứu.

Kết luận giám định số 314 ngày 01/7/2024 của Trung tâm pháp y Sở Y tế thành phố H đối với thương tích của anh Đỗ Thanh T2, kết luận: Vết thương vùng vai trái đã được điều tra, hiện còn 01 sẹo 1,4 x 0,4 cm, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể là 01%.

Ngày 28/4/2024, anh Đỗ Thanh T2 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự xử lý hành vi cố ý gây thương tích của Nguyễn Duy T.

Ngày 04/5/2024, T tự đến Công an P, Quận A theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra và thừa nhận hành vi phạm tội như trên. Ngoài ra, thu giữ 01 súng tự chế T đang cất giấu. T cho biết khẩu súng trên do 01 đối tượng tên T3 (không rõ lai lịch) cho để T làm vật trang trí. Kết luận giám định số 6710 ngày 12/6/2024 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận: khẩu súng không còn sử dụng được, không thuộc danh mục vũ khí.

Vật chứng không thu giữ được:

  • 01 dao thái lan (do T vất bỏ trên đường bỏ chạy).

Vật chứng thu giữ:

  • 01 áo quân phục Công an của anh T2.
  • 01 khẩu súng tự chế (không sử dụng được), do T cất giữ
  • 01 điện thoại di động hiệu Redmin 10C, là tài sản riêng của bị can.
  • 01 USB chứa hình ảnh vụ việc.

Về trách nhiệm dân sự: bị hại Đỗ Thanh T2 không có yêu cầu gì.

Tại Bản cáo trạng số 112/CT-VKSQ11 ngày 08 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 truy tố bị cáo Nguyễn Duy T tội danh “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a, k khoản 1, Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo có lời khai phù hợp với các lời khai tại Cơ quan điều tra và những chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

- Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 11 trình bày lời luận tội, giữ quan điểm như truy tố, nêu các tình tiết giảm nhẹ và đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Duy T mức án từ 02 (hai) năm đến 03 (ba) năm tù; đồng thời đề nghị hướng xử lý vật chứng, tài sản đã thu giữ:

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • 01 áo quân phục Công an của anh T2.
  • 01 khẩu súng tự chế (không sử dụng được), do T cất giữ

Đề nghị trả lại cho Nguyễn Duy T 01 điện thoại di động hiệu Redmin 10C.

Đề nghị tịch thu lưu hồ sơ vụ án 01 USB lưu hình ảnh vụ việc.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:

Các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Duy T đã khai nhận hành vi “Cố ý gây thương tích” như nội dung bản cáo trạng đã nêu.

Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an Q, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Quận 11, biên bản thực nghiệm điều tra và tang vật thu giữ phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng của Bộ luật hình sự quy định, Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo T đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 134 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[3] Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm, thể hiện rõ ý thức xem thường tính mạng, sức khỏe của người khác, xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả xảy ra và bất chấp cả sự trừng trị của pháp luật. Do đó, hành vi của bị cáo phải được xử lý bằng biện pháp hình sự nhằm răn đe giáo dục bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo cải tạo thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật và tôn trọng tính mạng sức khỏe của người khác, đồng thời mang tính phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Xét về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Nguyễn Duy T dùng hung khí nguy hiểm là dao Thái Lan tấn công gây thương tích cho anh T2 là cảnh sát khu vực đang thi hành công vụ với tỷ lệ 1%, thi đây là tình tiết định khung quy định tại điểm a,k khoản 1 Điều 134 Bô luật hình sự là có cơ sở và đúng quy định pháp luật.

Bị cáo đang có 01 tiền án, chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội do cố ý, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g, khoản 1, Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Ngoài ra bị cáo cũng có nhân thân rất xấu nên phải có án nghiêm khắc đối với bị cáo T.

Tuy nhiên, khi lượng hình cần xem xét tình tiết giảm nhẹcho bị cáo là tại cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên tòa hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, nhận tội và tỏ ra ăn năn hối cải. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa hôm nay, bị hại vắng mặt, nhưng căn cứ vào hồ sơ vụ án xét thấy anh Đỗ Thanh T2 không yêu cáo T bồi thường nên Hội đồng xét xử không có gì phải xem xét.

Về xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 áo quân phục Công an của anh T2 do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
  • Đối với 01 khẩu súng tự chế (không sử dụng được) là vật không có giá trị sử dụng nên tịch thu và tiêu hủy.
  • Đối với 01 điện thoại di động hiệu Redmin 10C của Nguyễn Duy T không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho Nguyễn Duy T.
  • Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 USB lưu hình ảnh vụ việc.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Duy T phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng Điều 50; điểm a,k khoản 1 Điều 134; điểm g khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt:

Nguyễn Duy T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 06/5/2024.

Căn cứ vào điểm a,b,c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 và khoản 1, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

+ Tịch thu và tiêu hủy:

  • 01 áo sơ mi (trang phục công an nhân dân không có quân hàm) màu xanh tay ngắn có dính máu.
  • 01 khẩu súng tự chế (không sử dụng được).

+ Trả lại cho Nguyễn Duy T 01 điện thoại di động hiệu Redmin 10C màu xanh ngọc (đã qua sử dụng).

(Theo Lệnh nhập kho vật chứng số 1022/LNK-ĐCSHS ngày 01/8/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q).

+ Tiếp tục lưu hồ sơ vụ án: 01 USB chứa hình ảnh vụ việc.

Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a,c khoản 1 Điều 23, điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo phải chịu là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015,

Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Căn cứ Điều 26 Luật thi hành án dân sự năm 2008.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

  • - TAND - VKSND TPHCM;
  • - Sở Tư pháp TPHCM;
  • - PV06 - CA TPHCM;
  • - VKSND Q.11;
  • - Công an Q.11;
  • - Chi cục THADS Q.11;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Tô Đông Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 11 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Duy Thanh 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger