Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 105/2024/HS-ST

Ngày 13 tháng 11 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuấn
Thẩm phán: Ông Trần Anh Khoa
Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Gia Cát
Ông Phạm Văn Tuất
Bà Nguyễn Thị Thanh

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Ánh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Hải – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 106/2024/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 14/10/2024 của Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà đối với bị cáo:

Lê Văn L, sinh năm: 1995 tại Khánh Hòa; tên gọi khác: Không; giới tính: Nam; nơi ĐKHKTT: 1 V, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện nay: Nhà thuê thuộc Tổ G L, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 06/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông (Không rõ) và bà Lê Thị Hồng C; vợ, con: Không; Có 02 anh em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: 01 tiền án.

- Ngày 22/8/2018, bị TAND tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo Bản án số hành xong án phí của 49/HSST. Chấp hành xong án phạt tù ngày 25/01/2022. Đã thi bản án trên.

Nhân thân: Ngày 26/10/2023, bị Công an thành phố N ra Quyết định xử phạt hành chính về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Bị cáo bị bắt giữ từ ngày 14/4/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh K. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo Lê Văn L theo chỉ định của Tòa án: Luật sư Nguyễn Thị Thu H – V1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh K; địa chỉ: Chung cư C, KĐT V, xã V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.

- Người làm chứng:

  1. Anh Phan Văn T, sinh năm: 1996; địa chỉ thường trú: Hẻm B N, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nơi ở hiện tại: 2 L, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt tại phiên tòa.
  2. Anh Võ Viết V, sinh năm: 1988; địa chỉ: TĐS A, Ô, H, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.
  3. Chị Trần Thanh T1, sinh năm 1991; nơi ở hiện tại: 5 L, phường N, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 17 giờ 20 phút ngày 13/4/2023, tại khu vực trước khách sạn N, số D đường B T, V, N, Khánh Hòa, Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện, bắt quả tang Lê Văn L có hành vi cất giấu 01 bịch nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 4,8926 gam (ký hiệu A). Cùng ngày, tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Văn L tại nhà thuê không số thuộc Tổ G L, N, N, Khánh Hòa, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N phát hiện, thu giữ: Trong tủ quần áo 04 bịch nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 229,88 gam (ký hiệu B); tại kệ tủ nhựa 02 bịch nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 3,4955 gam (ký hiệu C). Trong quá trình khám xét, Võ Viết V cầm theo 01 hộp giấy đến giao cho L. V khai nhận, đây là gói hàng mà L nhờ V đến văn phòng nhà xe số 109 T, P, N nhận và cất giữ giúp từ 03 ngày trước, V không biết bên trong gói hàng có gì. Tổ công tác yêu cầu Văn mở gói hàng để kiểm tra, phát hiện bên trong có 02 bịch nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng có khối lượng 462,92 gam (ký hiệu là D). L khai nhận toàn bộ những bịch nylon màu trắng bên trong chứa tinh thể màu trắng bị thu giữ nêu trên là ma túy, L mua về để bán lại cho người khác.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng tháng 3/2023, Lê Văn L biết người nam có tên thường gọi “Cơm R” (không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 0902.797.xxx) là người bán ma túy tại Thành phố Hồ Chí Minh. Đến đầu tháng 4/2023, để có tiền tiêu xài và ma túy đá sử dụng, L bắt đầu đặt mua ma túy của “Cơm Rụ” từ Thành phố Hồ Chí Minh về N phân lẻ thành nhiều bịch nhỏ để bán cho người khác. Theo đó, khoảng ngày 02/4/2023, L sử dụng số điện thoại 0338.388.xxx gọi đến số 0902797900 của “Cơm Rụ” mua 250 gam ma túy đá, “Cơm Rụ” đồng ý bán với giá 90.000.000 đồng và báo sẽ bỏ ma túy vào trong gói hàng gửi ra N cho L qua dịch vụ xe khách (chạy tuyến Thành phố Hồ Chí Minh - thành phố N). Sau đó, L đưa tiền cho người nam tên thường gọi là "Anh ba" (không rõ lai lịch) nhờ đến ngân hàng S gửi tiền đến số tài khoản do Cơm Rụ" cung cấp (không nhớ số tài khoản). Đến ngày 03/4/2023 gói hàng đựng ma túy đã về đến nhà xe tại số A T, N, “Cơm Rụ” báo L1 biết đến nhận gói hàng với số điện thoại người nhận là 0902.797.xxx (là số điện thoại mà “Cơm Rụ” sử dụng), L đồng ý. Sau đó, L liên lạc nhờ Võ Viết V đi nhận giúp gói hàng mang về giao cho L, V đồng ý và đi nhận gói hàng mang về giao cho L tại nhà trọ thuộc Tổ G L, N, N, Khánh Hòa. Sau khi có ma túy, L phân lẻ và cất giấu tại đây. Đồng thời, L rủ Phan Văn T (đối tượng nghiện ma túy) giúp L bán ma túy, đổi lại L cho T ăn, ở và sử dụng ma túy không mất tiền. Khi Trần Thanh T1 và nhiều người khác (đều chưa rõ lai lịch) liên hệ đến số điện thoại 0338.388.xxx thuận giá, hẹn địa điểm và mang ma túy đến bán hoặc giao ma túy cho Phan Văn T (hoặc tài khoản Zalo tên “Đùa Hoài”) của L hỏi mua ma túy, L trực tiếp thỏa mang đi bán cho khách với giá 3.000.000 đồng/01 hộp 5 bịch. Đến khoảng ngày 09/4/2023, “Cơm Rụ” liên lạc qua điện thoại nói sẽ tiếp tục gửi ma túy đá ra N cho L bán. Đến ngày 10/4/2023, “Cơm Rụ” báo gói hàng chứa ma túy đã về đến nhà xe số 109 Trần Nhật D, P, N và nói L ra nhận (với số điện thoại người nhận là 0902.797.xxx), L đồng ý và nhờ Võ Viết V đi nhận và mang gói hàng về nhà mình cất giữ. Đến sáng ngày 13/4/2023, L đã bán cho Trần Thanh T1 01 bịch hộp 5 bịch ma túy đá giá 3.000.000 đồng. Đến khoảng 17 giờ 20 phút cùng ngày, L mang theo 01 bịch ma túy đá (để khi có người hỏi mua thì bán) đi đến khu vực trước khách sạn N, số D đường B T, V, N thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang. Cùng ngày, khi Võ Viết V mang hộp giấy bên trong có ma túy đến giao cho L cũng bị phát hiện, thu giữ như trên.

Tại Bản Kết luận giám định số 171 ngày 19/4/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh K kết luận:

  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định giám định là ma túy, có khối lượng 4,8926 gam, là (loại) Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu B gửi giám định giám định là ma túy, có khối lượng 229,88 gam, là (loại) Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 3,4955 gam, là (loại) Methamphetamine.
  • Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu D gửi giám định giám định là ma túy, có khối lượng 462,92 gam, là (loại) Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số 53/CT-VKSKH-P1 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, truy tố bị can Lê Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự

Đối với đối tượng tên “Cơm Rụ” (sử dụng số điện thoại 0902.797.xxx) là người bán ma túy cho Lê Văn L và người nam tên gọi “Anh B” là người giúp L gửi tiền mua ma túy cho đối tượng tên “Cơm Rụ”. Do chưa xác định được nhân thân, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục xác minh, thu thập chứng cứ để điều tra làm rõ, khi đủ cơ sở sẽ đề nghị xử lý sau.

Đối với Phan Văn T, tại Cơ quan điều tra T khai nhiều lần giúp L bán ma túy trước đó. Tuy nhiên, tại thời điểm Lê Văn L phạm tội bị bắt quả tang Phan Văn T không có tham gia. Tại phiên tòa, Lê Văn L và Phan Văn T không thừa nhận trước đó T có bán giúp ma túy cho L. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh K tiếp tục xác minh, điều tra làm rõ, khi có đủ căn cứ sẽ đề nghị xử lý Phan Văn T sau.

Đối với Võ Viết V được L nhờ đến Văn phòng nhà xe tại số A T, N nhận giúp gói hàng mang về nhà cất, rồi mang đến đưa lại cho L. L không nói cho V biết bên trong gói hàng đụng gì và V cũng không biết đó là ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra tỉnh Khánh Hòa tiếp tục điều tra, xác minh, khi nào có căn cứ sẽ xem xét xử lý sau.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Khánh Hòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 39 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn L hình phạt tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Về vật chứng, đề nghị Hội đồng xét xử:

Tịch thu tiêu hủy: Lượng ma túy còn lại sau khi giám định. 01 (một) túi vải màu đen kích thước (27x32)cm, 01 (một) cân điện tử màu vàng không rõ nhãn hiệu, 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có 01 đầu hàn kín, 01 đầu cắt vát nhọn. Nhiều bịch nylon màu trắng có khóa khằn miệng nhiều kích cỡ, bên trong đều không chứa gì.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, vỏ màu đen, sử dụng sim số 0772433616 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng, sử dụng số thuê bao 0338388488 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) của bị cáo Lê Văn L.

Trả lại cho Phan Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI, vỏ màu trắng, sử dụng sim số 0787010845 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ Giao cho cơ quan điều tra Công an tỉnh K 01 (một) xe máy màu đen hiệu Suzuki, màu sơn cam-đen, gắn biển kiểm soát 79N1-530.35 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo Lê Văn L: Đồng ý với nội dung truy tố đối với bị cáo. Tuy nhiên, bị cáo L thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hoàn cảnh gia đình bị cáo khó khăn. Trình độ văn hóa thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

Bị cáo đồng ý với nội dung cáo trạng đã truy tố và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ cho một phần hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng vắng mặt, xét thấy việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc giải quyết vụ án, nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt người làm chứng theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa, các bị cáo Lê Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Xét thấy lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận:

Trong thời gian từ đầu tháng 4 năm 2023, Lê Văn L đã có hành vi nhiều lần mua ma túy của người nam có tên thường gọi “Cơm Rụ” (chưa rõ lai lịch) từ thành phố Hồ Chí Minh đem về cất giấu tại nhà trọ thuộc Tổ G L, N, N, Khánh Hòa để bán lại cho người khác.

Khoảng 17 giờ 20 phút ngày 13/4/2023, tại khu vực trước khách sạn N, số D đường B T, V, N, Khánh Hòa và tại nhà thuê không số Tổ 7 L, Ngọc H1, Lê Văn L bị Tổ công tác của Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố N phát hiện bắt giữ với tổng số lượng ma túy bị thu giữ là 701,1881 gam Methamphetamine.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp; Do đó, cáo trạng số 53/CT-VKSKH-P1 ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa, truy tố bị cáo Lê Văn L về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b Khoản 4 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ.

[4] Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

4.1. Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm, đã vận chuyển trái phép ma túy loại Methamphetamine một cách trái phép, số lượng ma túy lớn, xâm phạm đến những quy định của Nhà nước về quản lý các chất ma túy. Đây là chất gây nghiện nên có tác hại rất lớn, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, là nguyên nhân gây ra các tội phạm, tệ nạn xã hội khác. Bản thân bị cáo đã từng bị xử phạt về hành vi liên quan đến ma túy chưa được xóa án tích, nay tiếp tục phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thể hiện sự coi thường pháp luật. Do đó, cần xử phạt các bị cáo mức án thật nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội để giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

4.2. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can Lê Văn L phạm tội thuộc trường hợp tái phạm nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

4.3. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, cần áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 cho các bị cáo.

[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có tài sản nên không phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng vụ án: Đối với lượng ma túy còn lại sau khi giám định. Xét đây là chất cấm lưu hành, nên cần tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) túi vải màu đen kích thước (27x32) cm, 01 (một) cân điện tử màu vàng không rõ nhãn hiệu, 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có 01 đầu hàn kín, 01 đầu cắt vát nhọn. Nhiều bịch nylon màu trắng có khóa khằn miệng nhiều kích cỡ, bên trong đều không chứa gì. Xét không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, vỏ màu đen, sử dụng sim số 0772433616 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong); 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, vỏ màu vàng, sử dụng số thuê bao 0338388488 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong). Đây là phương tiện thông tin liên lạc của bị cáo để thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

- 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI, vỏ màu trắng, sử dụng sim số 0787010845 không phải vật chứng vụ án nên trả lại cho Phan Văn T.

- 01 (một) xe máy màu đen hiệu Suzuki, màu sơn cam-đen, gắn biển kiểm soát 79N1-530.35 chưa xác minh được chủ sở hữu. Do đó, giao cho cơ quan điều tra Công an tỉnh K để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 39 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt bị cáo Lê Văn L hình phạt tù Chung thân về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày bị bắt giữ 14/4/2023.

2. Về vật chứng: Căn cứ vào khoản 1, điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy:

  • 01 (một) hộp niêm phong bên ngoài ghi “Vụ 171-GT/2023 – Mẫu vật còn lại sau giám định gồm Mẫu ký hiệu A có khối lượng 4,3890g, mẫu ký hiệu B có khối lượng 228,15g, mẫu ký hiệu C có khối lượng 3,1889g, mẫu ký hiệu D có khối lượng 458,92g được niêm phong có chữ ký của Nguyễn Ngọc Thanh T2, Nguyễn Hoàng Quang A, Trần Văn H2, Nguyễn Trần T3 và hình dấu tròn, màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh K.
  • 01 (một) túi vải màu đen kích thước (27x32)cm; 01 (một) cân điện tử màu vàng không rõ nhãn hiệu; 01 (một) ống hút nhựa màu trắng có 01 đầu hàn kín, 01 đầu cắt vát nhọn; Nhiều bịch nylon màu trắng có khóa khằn miệng nhiều kích cỡ, bên trong đều không chứa gì.

Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO, vỏ màu đen, sử dụng sim số 0772433616 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).
  • 01 (một) điện thoại di động hiệu S1, vỏ màu vàng, sử dụng sim số 0338388488 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

Trả lại cho Phan Văn T 01 (một) điện thoại di động hiệu REDMI, vỏ màu trắng, sử dụng sim số 0787010845 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong).

+ Giao cho cơ quan điều tra Công an tỉnh K 01 (một) xe máy màu đen hiệu Suzuki, màu sơn cam-đen, gắn biển kiểm soát 79N1-530.35 (đã qua sử dụng, không kiểm tra chất lượng bên trong) để tiếp tục xác minh làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật.

Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra công an tỉnh K với Cục thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo Lê Văn L phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT1 - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND cấp cao tại Đà Nẵng;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Khánh Hòa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Khánh Hòa;
  • - Công an tỉnh Khánh Hòa;
  • - Cục THADS tỉnh Khánh Hòa;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia TT khác;
  • - Lưu hồ sơ; Án văn; Văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Tuấn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HS-ST ngày 13/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự sơ thẩm về tội mua bán trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 105/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Mua bán trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Lê Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger