|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27/9/2024
V/v: “Tranh chấp ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƠN TRẠCH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xuân Mai
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Điệp
Bà Trần Thanh Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch tham gia phiên tòa:
Bà Đặng Vân Hoàng Yến- Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số 224/2024/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 202/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 218/2024/QÐST-HNGĐ ngày 6 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:
- -Nguyên đơn: Chị Lai Kim T, sinh năm 1995.
- Địa chỉ: Khu P, thị trấn L, huyện L, Đồng Nai.
- -Bị đơn: Anh Võ Văn N, sinh năm 1989.
- Địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, Đồng Nai.
- (Chị T có đơn xin xét xử vắng mặt, anh N vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện đề ngày 09 tháng 5 năm 2024 và lời khai có trong hồ sơ vụ án nguyên đơn chị Lai Thị Kim T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Võ Văn N có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2017. Vợ chồng sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Võ Văn N.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017. Trường hợp ly hôn chị đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Không có.
Bị đơn anh Võ Văn N đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý, giấy triệu tập, thông báo giao nộp chứng cứ, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải nhưng không đến Tòa làm việc nên không ghi được lời khai và không tiến hành hòa giải được.
Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nhơn Trạch:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Từ khi thụ lý, quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ theo đúng trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn là đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định pháp luật.
Về đường lối giải quyết vụ án: Chị Thảo và anh N có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2017. Vợ chồng chồng sống chung thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn là do không cùng quan điểm dẫn đến vợ chồng thường xuyên gây gỗ, vợ chồng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị nhận thấy không còn tình cảm và mục đích hôn nhân không đạt nên chị xin được ly hôn với anh Võ Văn N.
Do chị T và anh N kết hôn vào năm 2017, khi kết hôn anh chị có đủ điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều 8,9 Luật HNGĐ năm 2014. Nhận thấy, chị T xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của chị T.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017. Khi ly hôn, chị T đề nghị được nuôi con chung, chị T không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét việc chị T yêu cầu được nuôi con là có cơ sở nên căn cứ vào Điều 58 Luật HNGĐ năm 2014, đề nghị Tòa án giao cháu Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017 cho chị T nuôi dưỡng, tạm thời anh N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, về nợ chung: Không có không yêu cầu Tòa giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Lai Kim T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Võ Văn N đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Tòa án căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị T, anh N.
[2]. Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Quan hệ tranh chấp trong vụ án là tranh chấp ly hôn. Bị đơn anh Võ Văn N có địa chỉ: Ấp B, xã P, huyện N, tỉnh Đồng Nai nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch.
[3]. Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Kim T về việc xin ly hôn với anh Võ Văn N thì thấy rằng: Chị T, anh N kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2017 nên xác định hôn nhân giữa chị T, anh N là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh N không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh N bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND xã P mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh N địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, vợ chồng chị T, anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị L Kim Thảo được ly hôn anh Võ Văn N.
Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017. trường hợp ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị T thì thấy rằng hiện tại cháu K còn nhỏ. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển một cách tốt nhất thì cần tiếp tục giao cháu Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.
Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
[4] Về án phí: Chị T là người nộp đơn xin ly hôn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn theo quy định của pháp luật.
Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ các Điều 28, 35, 39, 227, 228, 235, 238, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng Điều 8,9 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lai Kim T về việc xin ly hôn với anh Võ Văn N. Xử cho chị L Kim T được ly hôn với anh Võ Văn N.
- Về nuôi con chung: Giao con chung là cháu Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm thời anh Võ Văn N không phải cấp dưỡng nuôi con.
Sau khi ly hôn chị T, anh N vẫn phải có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung. Anh N có quyền thăm nom con; không ai được cản trở anh N thực hiện quyền này. Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét.
- Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
- Về án phí: Chị Lai Kim T phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai số 0017780 ngày 13/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhơn Trạch, tỉnh Đồng Nai. Chị T đã nộp đủ án phí.
Chị Lai Kim T, anh Võ Văn N được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày tròn kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.
|
* Nơi nhận :
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Xuân Mai |
Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lai Kim T về việc xin ly hôn với anh Võ Văn N thì thấy rằng: Chị T, anh N kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai vào năm 2017 nên xác định hôn nhân giữa chị T, anh N là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm, không còn khả năng hàn gắn đoàn tụ. Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến khi xét xử Tòa án đã nhiều lần gửi giấy triệu tập làm việc, hòa giải nhưng anh N không đến Tòa làm việc chứng tỏ việc anh N bỏ mặc hôn nhân, không có thiện chí hàn gắn xây dựng gia đình. Qua xác minh tại UBND xã P mâu thuẫn vợ chồng giữa chị T và anh N địa phương không nắm được, đề nghị Tòa án nhân dân huyện Nhơn Trạch xét xử theo quy định của pháp luật. Xét thấy, vợ chồng chị T, anh N đã mâu thuẫn trầm trọng, quá trình ly thân đã lâu nhưng vợ chồng không bàn bạc đoàn tụ chứng tỏ mục đích hôn nhân không đạt. Do đó chấp nhận đơn xin ly hôn của chị T, xử cho chị L Kim Thảo được ly hôn anh Võ Văn N. Về con chung: Có 01 con chung tên Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017. trường hợp ly hôn chị T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con. Xét yêu cầu về việc nuôi con chung của chị T thì thấy rằng hiện tại cháu K còn nhỏ. Do đó để đảm bảo cho sự phát triển một cách tốt nhất thì cần tiếp tục giao cháu Võ Lai Kim K, sinh ngày 06/9/2017 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị T không yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về tài sản chung: Đương sự khai không có nên không xét. Về nợ chung: Đương sự khai không có nên không xét.
