Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LONG MỸ

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 105/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 20 - 9 - 2024

“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Ngọc Thới Phần

Các Hội Thẩm nhân dân:

  1. Ông Phạm Ngọc Anh
  2. Bà Trần Thị Út

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Huỳnh Mỹ Phương, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tham gia phiên tòa: Bà Võ Huỳnh Anh Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại Phòng xét xử - Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 144/2024/TLST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 29 tháng 08 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 108/2024/QÐST-HNGĐ ngày 11 tháng 09 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bé N, sinh năm: 1978.

Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Nguyễn Hoàng N1, sinh năm: 1976.

Địa chỉ: Ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N (gọi tắt là chị Bé N) trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bé N và anh Nguyễn Hoàng N1 sống chung với nhau từ năm 2003 và kết hôn với nhau năm 2022, có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang. Nguyên nhân mâu thuẫn: Thời gian đầu chị Bé N và anh Hoàng N1 chung sống hạnh phúc nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không thể hàn gắn được, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị Bé N yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Hoàng Na.

Về con chung: Chị Bé N khai trong quá trình chung sống chị Bé N và anh Hoàng N1 có 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ X (nữ), sinh ngày 03/05/2004, cháu Nguyễn Thị Mỹ D (nữ), sinh ngày 10/08/2006 và cháu Nguyễn Thị Mỹ N2 (nữ), sinh ngày 21/01/2013, hiện 03 cháu đang sống với chị Bé N. Đối với cháu Mỹ X và cháu Mỹ D đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Khi ly hôn chị B Năm yêu cầu được nuôi cháu Mỹ N2, không yêu cầu anh Hoàng N1 cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị Bé N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Chị Bé N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ngoài ra, chị Bé N không có yêu cầu gì thêm và đề nghị Toà án xét xử vắng mặt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ bị đơn anh Nguyễn Hoàng N1 nhiều lần để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhưng anh Hoàng N1 đều vắng mặt không có lý do. Tại phiên toà hôm nay anh Hoàng N1 tiếp tục vắng mặt không có lý do nên Toà án không ghi nhận được ý kiến của bị đơn anh Nguyễn Hoàng Na.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ phát biểu ý kiến:

Trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại tòa hôm nay, Thẩm phán - Hội đồng xét xử thực hiện đúng trình tự thủ tục tố tụng. Đối với những người tham gia tố tụng thì nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử vẫn giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Về nội dung đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị Bé N; Về con chung giao cháu Nguyễn Thị Mỹ N2 (nữ), sinh ngày 21/01/2013 cho chị B Năm trực tiếp nuôi dưỡng, anh Hoàng N1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung và nợ chung: Không có nên không xem xét giải quyết; Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Đương sự phải chịu theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa để phân tích, đánh giá và nhận định về những chứng cứ, những tình tiết của vụ án:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N khởi kiện yêu cầu ly hôn đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng N1 và yêu cầu nuôi con chung. Căn cứ theo quy định tại Điều 28 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì quan hệ pháp luật trong vụ kiện này là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con" được Luật hôn nhân và gia đình điều chỉnh. Bị đơn anh Nguyễn Hoàng N1 có địa chỉ cư trú tại ấp G, xã L, huyện L, tỉnh Hậu Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền xét xử của Tòa án nhân dân huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2]. Về việc vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị B Năm vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Nguyễn Hoàng N1 được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa xét xử nhưng vắng mặt không có lý do, nên Hội đồng xét xử áp dụng Điều 228, Điều 233 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 xét xử vắng mặt đối với nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N và anh Nguyễn Hoàng N1, nhưng vẫn đảm bảo quyền lợi cho chị Bé N và anh Hoàng N1 theo quy định pháp luật.

[2]. Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của chị B Năm Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bé N và anh Hoàng N1 kết hôn với nhau năm 2012, có đăng ký kết hôn theo quy định nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình. Xét nguyên nhân mâu thuẫn thấy rằng chị Bé N và anh Hoàng N1 có thời gian chung sống hạnh phúc, nhưng về sau phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, trong quá trình giải quyết vụ án chị B Năm cương quyết xin ly hôn với anh Hoàng N1, chị Bé N cho rằng hôn nhân của anh chị không thể hàn gắn được. Anh Hoàng N1 đã được Toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần để tiến hành hoà giải, nhưng anh Hoàng N1 đều vắng mặt không có lý do, đều đó cho thấy hôn nhân của anh chị đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên Hội đồng xét xử thống nhất căn cứ theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Bé N, cho chị Bé N và anh Hoàng N1 được ly hôn.

[2.2]. Về con chung: Xét yêu cầu nuôi con chung của chị B Năm Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Bé N và anh Hoàng N1 trong quá trình chung sống có 03 con chung tên Nguyễn Thị Mỹ X, cháu Nguyễn Thị Mỹ D và cháu Nguyễn Thị Mỹ N2, hiện các cháu đang sống với chị O. Cháu Mỹ X và Mỹ D đã trưởng thành nên chị Bé N không yêu cầu Tòa án giải quyết, khi ly hôn chị Bé N yêu cầu được nuôi Mỹ Nhiên. Xét thấy, trong thời gian chị Bé N và anh Hoàng Na ly T thì cháu M N2 sống chung với chị B Năm và được chị B Năm nuôi dưỡng, chăm sóc tốt. Ngoài ra cháu Mỹ N2 đã trên 07 tuổi và có nguyện vọng tiếp tục sống chung với chị Bé N. Do đó, để đảm bảo điều kiện phát triển tốt và ổn định cuộc sống cho cháu Mỹ N2 nên Hội đồng xét xử thống nhất giao Nguyễn Thị Mỹ N2 (nữ), sinh ngày 21/01/2013 cho chị B Năm tiếp tục nuôi dưỡng là hoàn phù hợp theo quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình. Anh Hoàng N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng: Do chị Bé N chưa yêu cầu anh Nguyễn Hoàng N1 cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử chưa xem xét.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Bé N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[3]. Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc chị Nguyễn Thị Bé N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

[4]. Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Mỹ tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 39; Điều 147; Điều 288; Điều 233; Điều 238 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

Điều 9, Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình 2014;

Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N đối với bị đơn anh Nguyễn Hoàng Na

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N được ly hôn với bị đơn anh Nguyễn Hoàng Na.
  2. Về con chung: Giao Nguyễn Thị Mỹ N2 (nữ), sinh ngày 21/01/2013 cho chị B Năm tiếp tục nuôi dưỡng. Anh Hoàng N1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được quyền cản trở.
  3. Về cấp dưỡng: Anh Hoàng N1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị Bé N chưa yêu cầu.

  4. Về tài sản chung: Chị Bé N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  5. Về nợ chung: Chị Bé N khai không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
  6. Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Bé N phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng). Được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0010188 phiếu lập ngày 31/07/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
  7. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  8. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và bị đơn có quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận

  • - VKSND huyện Long Mỹ;
  • - THADS huyện Long Mỹ;
  • - TAND tỉnh Hậu Giang;
  • - UBND xã Lương Nghĩa;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Ngọc Thới Phần

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 105/2024/HNGĐ-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình – ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 105/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Anh N xin ly chị N1
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger