|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 105/2023/HS-PT Ngày 14-08-2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Nhậm
Các Thẩm phán: Bà Huỳnh Thị Phượng.
Ông Nguyễn Thiện Tâm.
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Mai – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An tham gia phiên toà: Ông Lê Văn Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 08 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 122/2022/TLPT-HS ngày 22 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Nguyễn Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 08-06-2022 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An.
- Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Thanh H (tên gọi khác: D), sinh năm: 1976; Nơi sinh: Tiền Giang; Nơi cư trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L (đã chết) và bà Phan Thị Q (đã chết); Vợ tên Trần Thị N; Con có 2 người lớn sinh năm 2005 nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 28/6/2021 đến ngày 01/10/2021 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho bảo lĩnh đến nay. Vắng mặt tại phiên tòa.
Những người không kháng cáo, kháng nghị không triệu tập:
Bị cáo: Trần Văn T, sinh năm 1965.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Ông Nguyễn Tấn P, sinh năm 1969
Ông Nguyễn Quốc C, sinh năm 1985
Bà Trần Thị N, sinh năm 1978
Bà Nguyễn Thị Mai T1, sinh năm 1966
Bà Trần Thị Mai T2, sinh năm 1990
Bà Phạm Thị Tâm A, sinh năm 2001
Ông Trần Minh T3, sinh năm 1993
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 16 giờ 30 phút ngày 28/6/2021, Công an thị xã K, tỉnh Long An tiến hành khám xét khẩn cấp nhà số A, quốc lộ F thuộc khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An do ông Trần Văn T, sinh năm: 1965, ngụ địa chỉ trên đứng tên chủ sở hữu. Kiểm tra phát hiện tại trước sảnh nhà của ông T có 01 xe ô tô, loại 07 chỗ, biển số: 63A-014.81 của tài xế Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1976, hộ khẩu thường trú: Khu phố A, thị trấn V, huyện G, tỉnh Tiền Giang, kiểm tra bên trong xe phát hiện 9.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại (gồm 8.100 bao hiệu Jet, 300 bao hiệu Hero, 600 bao hiệu Scott) và tiền mặt 155.580.000 đồng. Sau đó, lực lượng Công an tiếp tục kiểm tra bên trong nhà của ông T phát hiện tại kệ bếp của ông T có chứa 3.400 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 3.300 bao hiệu Jet, 100 bao hiệu Scott), dưới chân cầu thang sau kệ bếp tầng trệt có chứa 3.900 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 3.000 bao hiệu Jet, 600 bao hiệu Hero, 300 bao hiệu Scott), tại phòng K có chứa 1.200 bao thuốc lá điếu nhập lậu hiệu Jet, tại phòng K1 có chứa 9.300 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 8.700 bao hiệu Jet, 600 bao hiệu Hero). Tổng cộng thu giữ 26.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại. Lực lượng Công an đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, tạm giữ tang vật, phương tiện để điều tra làm rõ.
Quá trình điều tra xác định: Khoảng 23 giờ ngày 27/6/2021, T trực tiếp đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia đặt mua 26.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại của người Campuchia tên Cà R với số tiền 477.540.000 đồng. Sau đó, trong đêm 27/6/2021 có 02 người đàn ông Campuchia dùng xe mô tô chở thuốc lá đến giao cho T tại nhà số A, quốc lộ F thuộc khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An, số lượng tổng cộng: 24.300 bao thuốc lá hiệu Jet, 1.500 bao thuốc lá hiệu Hero và 1.000 bao thuốc lá hiệu Scott. T trực tiếp nhận và cất giấu nhiều nơi trong nhà và các phòng karaoke Vip 1, karaoke Vip 2. Vào khoảng 12 giờ ngày 28/6/2021, H điện thoại cho T qua số điện thoại: 0907.549.xxx để đến nhà T nhận 9.000 bao thuốc lá nhập lậu các loại mà H đã đặt mua trước của T trong ngày 26/6/2021 thì T đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô biển số 63A-014.81 từ nhà của H đến nhà T tại số A, quốc lộ F thuộc khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An để nhận thuốc lá. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, T đem thuốc từ trong nhà đưa cho H để chất lên xe, khi vừa chất thuốc lên xe xong, H chưa kịp trả tiền cho T thì bị Công an phát hiện và bắt giữ. Mục đích T mua thuốc lá để bán lại kiếm lời trả nợ tiền vay ngân hàng.
Nguyễn Thanh H thừa nhận khoảng 12 giờ ngày 28/6/2021, H dùng điện thoại di động S màu đen, sim số: 0339881181 để liên lạc với T đặt mua 9.000 bao thuốc lá nhập lậu các loại và đem theo số tiền 155.580.000 đồng để trả tiền mua thuốc lá. Đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, H điều khiển xe ô tô biển số 63A-014.81 đến nhà T tại số A, quốc lộ F thuộc khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An để nhận thuốc lá, khi chất thuốc lên xe xong, chưa kịp trả tiền thì bị bắt quả tang. Kiểm tra bên trong xe của H có chứa 9.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu (gồm 8.100 bao thuốc lá hiệu Jet, 300 bao bao thuốc lá hiệu Hero, 600 bao thuốc lá hiệu Scott) và số tiền 155.580.000 đồng. Mục đích H mua thuốc lá của T để bán lại kiếm lời.
Tang vật, đồ vật thu giữ gồm: 26.800 bao thuốc thuốc lá điếu nhập lậu gồm: 24.300 bao hiệu Jet, 1.500 bao hiệu Hero, 1.000 bao hiệu Scott, 01 xe ô tô biển số: 63A-014.81, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe số: 003802, 01 giấy chứng nhận kiểm định xe số: 6354442; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm xe số: [...]; 01 giấy chứng minh nhân dân, 02 giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thanh H, 01 điện thoại Samsung màu đen, sim số: 0339881181, 01 ví da bên trong có thẻ ATM và số tiền 155.580.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 08-06-2022 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đã xử:
Tuyên bố: Các bị cáo Trần Văn T và Nguyễn Thanh H (tên gọi khác: D) đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Văn T 08 (tám) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thi hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 03 (ba) tháng 14 (mười bốn) ngày.
Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh H 08 (tám) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thi hành án phạt tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam là 03 (ba) tháng 03 (ba) ngày.
Bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền và thời hạn kháng cáo đối với những người tham gia tố tụng.
Ngày 20/6/2022, bị cáo Nguyễn Thanh H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và phạt tiền. Bị cáo Trần Văn T không kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Tòa án đã triệu tập phiên tòa Phúc thẩm vào ngày ngày 09 tháng 6, 20 tháng 7 và ngày 06 tháng 8 năm 2023, bị cáo đều có đơn xin hoãn phiên tòa do bị bệnh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Long An phát biểu quan điểm có nội dung:
Theo nội dung bản án sơ thẩm thì: Bị cáo Trần Văn T liên hệ với các đối tượng người Campuchia mua 26.800 bao thuốc lá ngoại các loại đem về cất dấu để bán lại. Ngày 28/6/2021 bị cáo Nguyễn Thanh H dùng điện thoại liên lạc với bị cáo T đặt mua 9.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại, đến khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày bị cáo H từ Tiền Giang điều khiển xe ô tô biển số 63A-014.81 và mang theo 155.580.000 đồng để trả tiền mua thuốc đến nhà bị cáo T nhận thuốc lá điếu nhập lậu, khi chất thuốc lên xe xong, chưa kịp trả tiền thì bị bắt quả tang. Kiểm tra bên trong xe của bị cáo H có chứa 9.000 bao thuốc lá điếu nhập lậu và số tiền 155.580.000 đồng. Kiểm tra nhà bị cáo T Công an thị xã K, tỉnh Long An đã bắt quả tang tại nhà bị cáo Trần Văn T và trong xe ôtô của bị cáo Nguyễn Thanh H tổng cộng 26.800 bao thuốc thuốc lá điếu nhập lậu. Mục đích của bị cáo T và H mua bán lại để kiếm lời nhưng chưa bán được thì bị phát hiện bắt giữ.
Như vậy, hành vi của các bị cáo T và H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Trong vụ án này tuy có hai người thực hiện tội phạm bị bắt quả tang cùng lúc, nhưng bị cáo T và bị cáo H tội phạm riêng lẻ nên không phải là đồng phạm trong vụ án.
Hành vi phạm tội của các bị cáo T và H là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến trật tự về quản lý kinh tế cần xử lý nghiêm. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của từng bị cáo và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để có hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo. Các bị cáo T và H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, mà có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo T được áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác là có ông, bà, cha vợ có công với cách mạng được Nhà nước công nhận và bản thân mắc nhiều bệnh như: Viêm gan C, thiếu máu tim, hở van tim, viêm ruột thừa, sỏi thận được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bị cáo H được áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác là có ông có công với cách mạng được Nhà nước công nhận và bản thân mắc nhiều bệnh như: gãy kín xương đòn trái đã được phẩu thuật, thoái hóa khớp gối hai bên, thoái hóa đốt sống cổ, thoát vị đĩa đệm được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Vì vậy cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo T và H là phù hợp.
Hội đồng xét xử cấp sơ thẩm đã tuyên phạt các bị cáo T 08 năm 06 tháng tù; tuyên phạt Nguyễn Thanh H 08 năm tù là có xem xét, đồng thời, tịch thu sung ngân sách nhà nước của bị cáo H số tiền 155.580.000 đồng dùng để mua thuốc lá điếu nhập lậu.
Ngày 20/6/2022, bị cáo Nguyễn Thanh H kháng cáo xin thay đổi hình phạt tù sang hình phạt tiền.
Qua quá trình triệu tập xét xử bị cáo bổ sung các giấy khám và điều trị bệnh trong đó có dấu hiệu của bệnh trầm cảm, Hội đồng xét xử đã trưng cầu giám định tâm thần pháp y và nhận được kết luận và giải thích của Trung tâm pháp y tâm thầm khu vực Thành phố H xác định bị cáo bị rối loạn hỗn hợp lo âu trầm cảm (F 41.21- IC 10) kể từ ngày 28/6/2021. Sau khi sự việc ngày 28/6/2021 bị cáo hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.
Căn cứ kết luận trên thì ngày 28/6/2021 là ngày bị cáo bị bắt quả tang về việc buôn bán hàng cấm. Trong quá trình điều tra xét xử cấp sơ thẩm không phát hiện bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cho nên cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố xét xử không đưa người giám hộ, người bào chữa tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng vì vậy cần hủy án sơ thẩm để giao về cấp sơ thẩm điều tra xét xử lại theo thủ tục chung.
Từ những phân tích trên Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự không xem xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh H, hủy 1 phần Bản án sơ thẩm số 13/2022/HS-ST ngày 08-6-2022 của Tòa án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An, đã áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thanh H, giao hồ sơ về cấp sơ thẩm điều tra lại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Bị cáo kháng cáo trong thời hạn theo quy định của pháp luật nên Tòa án nhân dân tỉnh Long An thụ lý vụ án giải quyết theo thủ tục phúc thẩm là có căn cứ.
[2] Bị cáo đã được triệu tập hợp lệ các phiên tòa vào ngày 09 tháng 6, 20 tháng 7 và ngày 06 tháng 8 năm 2023 bị cáo điều có đơn xin hoãn phiên tòa với lý do bệnh phải nằm viện. Tòa án đã triệu tập phiên tòa lần thứ 4 vào ngày hôm nay bị cáo vẫn vắng mặt. Xét thấy bị cáo có kháng cáo yêu cầu giảm nhẹ hình phạt, áp dụng hình phạt tiền, không có kháng cáo, kháng nghị theo hướng bất lợi cho bị cáo nên Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ tiến hành phiên tòa xét xử vụ án theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[3] Theo hồ sơ vụ án: Khoảng 23 giờ ngày 27/6/2021, bị cáo Trần Văn T đến khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia đặt mua 26.800 bao thuốc lá điếu nhập lậu các loại của người Campuchia tên Cà R với số tiền 477.540.000 đồng. Sau đó, trong đêm 27/6/2021 có 02 người đàn ông Campuchia dùng xe mô tô chở thuốc lá đến giao cho T tại nhà số A, quốc lộ F thuộc khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An, số lượng tổng cộng: 24.300 bao thuốc lá hiệu Jet, 1.500 bao thuốc lá hiệu Hero và 1.000 bao thuốc lá hiệu Scott. T trực tiếp nhận và cất giấu nhiều nơi trong nhà và các phòng karaoke Vip 1, karaoke Vip 2. Vào khoảng 12 giờ ngày 28/6/2021, bị cáo H điện thoại cho T qua số điện thoại: 0907.549.xxx để đến nhà T nhận 9.000 bao thuốc lá nhập lậu các loại mà H đã đặt mua trước của T trong ngày 26/6/2021 nhằm mục đích bán lại, bị cáo T đồng ý. Khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, bị cáo H điều khiển xe ô tô biển số 63A-014.81 từ nhà của bị cáo H đến nhà bị cáo T tại số A, quốc lộ F thuộc khu phố A, Phường C, thị xã K, tỉnh Long An để nhận thuốc lá. Đến khoảng 15 giờ 30 phút, bị cáo T đem thuốc từ trong nhà giao cho bị cáo H để chất lên xe, khi vừa chất thuốc lên xe xong, bị cáo H chưa kịp trả tiền cho bị cáo T thì bị Công an phát hiện và bắt giữ.
[4] Bị cáo Nguyễn Thanh H và bị cáo Trần Văn T đã có hành mua thuốc lá điếu nhập lậu với mục đích là mua bán lại để thu lợi. Với số lượng các bị cáo trực tiếp mua bán đã có đủ căn cứ xác định các bị cáo đã có hành vi cấu thành tội buôn bán hàng cấm theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” theo khoản 3 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Bản án sơ thẩm đã xét xử bị cáo T 8 năm 6 tháng tù và bị cáo H 8 năm tù. Bị cáo T không kháng cáo. Bị cáo H kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt áp dụng hình phạt tiền.
[5] Sau khi thụ lý hồ sơ vụ án theo thủ tục Phúc thẩm: Vào ngày 15/9/2023 bà Trần Thị N vợ bị cáo H có cung cấp hồ sơ khám bệnh vào ngày 30/08/2023 của bị cáo tại Bệnh viện tâm thần tỉnh T với kết quả chuẩn đoán: “F23.1- Rối loạn loạn thần cấp đa dạng với triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt”. Tòa án nhân dân tỉnh Long An đã trưng cầu giám định bệnh tâm thầm đối với bị cáo H. Tại kết luận giám định số 1371/KLGĐ ngày 19/04/2023, Kết luận giám định pháp y theo yêu cầu của Trung tâm pháp y tâm thần khu vực Thành phố H, giám định đối với bị cáo Nguyễn Thanh H, kết luận “Trước và trong khi xảy ra sự việc (ngày 28/06/2021 bị cáo bị bắt quả tang hành vi vận chuyển trái phép hàng cấm) Đối tượng Nguyễn Thanh H đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi. Sau khi sự việc xảy ra và cho đến hiện tại Đối tượng Nguyễn Thanh H hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi”. Căn cứ kết luận trên thì sau ngày 28/6/2021 là ngày bị cáo bị bắt quả tang về việc buôn bán hàng cấm. Trong quá trình điều tra xét xử cấp sơ thẩm không phát hiện bị cáo bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, cho nên cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử không đưa người giám hộ. Chỉ định người bào chữa cho bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử ở cấp sơ thẩm theo quy định tại Điều 76 Bộ luật Tố tụng hình sự là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng cấp Phúc thẩm không khắc phục được. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355, điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự hủy 1 phần án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thanh H. Giao cho Viện kiểm sát nhân dân Thị xã Kiền Tường, tỉnh Long An điều tra lại đối với Nguyễn Thanh H theo thủ tục chung.
[6] Do bản án sơ thẩm bị hủy 1 phần đối với bị cáo H nên không xem xét kháng cáo của bị cáo H.
[7] Tại cấp Phúc thẩm gia đình bị cáo mới cung cấp tài liệu chuẩn đoán bệnh. Cấp Phúc thẩm mới trưng cầu giám định bệnh đối với bị cáo, đây là tình tiết mới nên phải hủy 1 phần bản án sơ thẩm, không phải lỗi của cấp sơ thẩm.
[8] Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
[9] Các khoản khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị không bị án Phúc thẩm cải sửa, hủy có hiệu lực pháp luật thi hành kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 355 và điểm b khoản 1 Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Hủy một phần bản án sơ thẩm số: 13/2022/HS-ST ngày 08-06-2022 của Toà án nhân dân thị xã Kiến Tường, tỉnh Long An đối với bị cáo Nguyễn Thanh H. Giao hồ sơ vụ án về Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kiến Tường để điều tra lại theo thủ tục chung.
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Bị cáo Nguyễn Thanh H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Nhậm |
Bản án số 105/2023/HS-PT ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN về buôn bán hàng cấm
- Số bản án: 105/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn T và Nguyễn Thanh H (tên gọi khác: D) đã phạm tội “Buôn bán hàng cấm”
