|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG Bản án số: 105/2021/HNGĐ-ST Ngày: 16/7/2021 “V/v Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Sĩ Quang, Ông Phạm Công Định
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương: Ông Nguyễn Văn Tưởng - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 16 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 93/2021/HNGĐ ST ngày 23/4/2021, về việc " Ly hôn " theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 95/2021/QĐXXST - HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2021; Quyết định hoãn phiên tòa số 87/2021/QĐ-ST ngày 01/7/2021 giữa:
- 1. Nguyên đơn: Anh Phạm Văn Th, sinh ngày 16/11/1972. Địa chỉ : Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Hải Dương (vắng mặt).
- 2. Bị đơn: Chị Vũ Thị Q, sinh ngày 08/4/1977. Nơi cư trú trước khi xuất cảnh : Thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Hải Dương (vắng mặt). Hiện đang lao động tại Ma cao – Trung Quốc.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn xin ly hôn, bản tự khai - Nguyên đơn anh Phạm Văn Th trình bầy: Anh và chị Q được tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 08/4/1997. Sau ngày cưới vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm. Mặt khác chị Q có thời gian dài đi lao động ở nước ngoài nên vợ chồng không tìm thấy tiếng nói chung. Thông qua người thân anh được biết chị Q hiện đang ở Ma Cao – Trung Quốc và không có ý định về Việt Nam sinh sống. Nay anh xác định tình cảm vợ chồng không còn, để ổn định cuộc sống cho các bên, anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Q.
Về con chung: Vợ chồng anh có một con chung là Phạm Đức P, sinh ngày 03/12/1999. Hiện cháu đang học tập tại nước ngoài, cháu đã trưởng thành, ly hôn anh không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Khoảng năm 2007 vợ chồng anh có nhận chuyển nhượng của bố vợ là ông Vũ Văn H diện tích đất tại thôn T, xã N (nhưng chưa làm thủ tục sang tên) đến năm 2012 có xây 01 nhà 2 tầng trên đất. Ly hôn anh và chị Q thỏa thuận để lại nhà đất cho con, nên không đề nghị Tòa án giải quyết.
Về nợ chung : Không có, ly hôn không đề nghị Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án do anh Th không cung cấp được địa chỉ của chị Vũ Thị Q tại Ma Cao – Trung Quốc nên Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã lấy lời khai của bà Vũ Thị M là mẹ đẻ chị Q. Bà M xác định chị Q đi lao động tại Ma Cao – Trung Quốc từ năm 2014, từ khi đi đến nay chị Q có về Việt Nam một lần. Khoảng 1 năm gần đây anh Th không qua lại gia đình bà, nên gia đình mới biết vợ chồng anh Th, chị Q có mâu thuẫn. Bà không biết địa chỉ của chị Q ở nước ngoài, nhưng chị Q thường xuyên liên lạc về cho bà bằng điện thoại. Bà đồng ý nhận các văn bản tố tụng của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho chị Q biết. Sau khi nhận các văn bản tố tụng của Tòa án, bà M xác định đã thông tin cho chị Q biết. Chị Q có quan điểm xác định tình cảm vợ chồng không còn, chị đồng ý ly hôn và đề nghị giải quyết vắng mặt. Về con chung đã trưởng thành nên không đề nghị Tòa án giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung không có, không đề nghị Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương phát biểu quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và nguyên đơn cơ bản đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về đường lối giải quyết: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy mâu thuẫn của anh Th, chị Q đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện, xử cho anh Th được ly hôn chị Q.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, xem xét ý kiến của các đương sự, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án, anh Th không cung cấp được địa chỉ của chị Q tại Ma Cao - Trung Quốc. Theo hướng dẫn tại công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương đã hai lần yêu cầu gia đình chị Q cung cấp địa chỉ, nhưng gia đình không cung cấp được. Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản theo quy định của pháp luật. Thông qua gia đình, chị Q xác định tình cảm vợ chồng không còn, đồng ý ly hôn và xin được giải quyết vắng mặt. Do vậy áp dụng công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, Tòa án tiến hành giải quyết theo thủ tục cố tình giấu địa chỉ. Trong quá trình giải quyết vụ án anh Th có quan điểm xin được xét xử vắng mặt. Do vậy căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.
[2]. Về nội dung:
- - Về quan hệ hôn nhân: Anh Phạm Văn Th và chị Vũ Thị Q tự do tìm hiểu có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Hải Dương ngày 08/4/1997, do vậy hôn nhân của anh chị là hợp pháp. Vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được 10 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do anh chị có thời gian dài sống xa nhau, mỗi người ở một nơi nên không tìm thấy tiếng nói chung. Nay anh Th xác định tình cảm vợ chồng không còn và đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn. Thông qua gia đình, chị Q có quan điểm đồng ý ly hôn. Xét thấy, thực tế cả hai đều xác định tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng. Do vậy, có căn cứ chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh Th.
- - Về con chung: anh Phạm Văn Th và chị Vũ Thị Q có một con chung là Phạm Đức P, sinh ngày 03/12/1999, hiện nay con chung đã trưởng thành nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
[3]. Về án phí: Anh Phạm Văn Th phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Phạm Văn Th được ly hôn chị Vũ Thị Q.
- Về con chung: Con chung của anh Th, chị Q đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Anh Phạm Văn Th phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được đối trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) anh Th đã nộp, theo biên lai thu số AA/2018/0005953 ngày 19 tháng 4 năm 2021 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hải Dương. Anh Th đã nộp đủ án phí.
- Về quyền kháng cáo: Anh Phạm Văn Th được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật. Chị Vũ Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận: - VKS tỉnh Hải Dương - Các đương sự. - Cục thi hành dân sự. - UBND xã N. - Lưu. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã Ký) Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 105/2021/HNGĐ-ST ngày 16/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương về ly hôn
- Số bản án: 105/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện
