Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                                            

Bản án số: 1047/2024/HS-PT

Ngày: 11 - 11 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu
Các Thẩm phán: Bà Lê Thúy Cầu
Bà Phạm Thị Duyên

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyệt Hà - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 05 và 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 752/2024/TLPT- HS ngày 15 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Trung Ngọc H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo: Trung Ngọc H (tên gọi khác: Đ); giới tính: nữ; sinh năm 1980 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: 5 N, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Hoa; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: kế toán; con ông Trung Ngọc C và bà Hứa Kim C1; bị cáo có chồng và 02 con (lớn sinh năm 2006, nhỏ sinh năm 2011); tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn là C2 đi khỏi nơi cư trú. (có mặt).

Luật sư bào chữa cho bị cáo Trung Ngọc H: Luật sư Lê Nguyễn Quỳnh T; thuộc Đoàn Luật sư Thành phố H. (có mặt).

Ngoài ra trong vụ án còn có bị cáo khác nhưng không có kháng cáo và không liên quan đến kháng cáo nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 24/9/2013, Phòng Cảnh sát kinh tế Công an Thành phố H phối hợp với Đội kiểm soát chống buôn lậu khu vực M thuộc Cục Điều tra chống buôn lậu – T6, thực hiện Quyết định số 06/BB -HC2, về việc khám phương tiện vận tải, đồ vật theo thủ tục hành chính đối với 02 Container chứa hàng xuất khẩu mang số hiệu TGHU 6056447 và số DFSU 6684861 thuộc tờ khai hải quan xuất khẩu số 19877 XKD, do Công ty Cổ phần T7 (viết tắt là Công ty T7), mở tờ khai ngày 20/9/2013, tại Chi cục Hải quan Cửa khẩu Sài Gòn Khu vực I, Thành phố Hồ Chí Minh (Cảng ICD III T), ghi tên hàng thuốc lá điếu nhãn hiệu Caraven “A”, số lượng 3.000 thùng, quy cách 01thùng/50 cây, 01cây/10 gói, 01gói/20 điếu, trị giá lô hàng 23.645.454.000đ.

Qua kiểm tra thực tế phát hiện: hàng hóa chứa trong 02 Container số hiệu TGHU6056447 và số DFSU6684861 theo tờ khai số 19877-XKD ngày 20/9/2013 thực tế lô hàng là 20.000kg gạo trắng. Trong khi Cơ quan chức năng đang thực hiện khám xét 02 container hàng hóa nêu trên, Tô Nguyễn Trung H1 cho xe tải vận chuyển tiếp 02 container số GESU 6494081 và số CRSU 9133377 chứa 2.059 thùng thuốc lá, trong đó có 1.140 thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu Bastos và 919 thùng thuốc lá điếu nhãn hiệu Caraven “A”, chạy vào Cảng ICD III T, nhằm đánh tráo 02 Container số hiệu TGHU 6056447 và số hiệu DFSU 6684861 chứa 20.000kg gạo nêu trên, Chi cục Hải quan C5 Khu vực IV đã tạm giữ số hàng trên để phục vụ cho công tác điều tra xử lý.

Ngày 03/10/2013, Cục Điều tra chống buôn lậu - T6 đã ra Quyết định khởi tố vụ án “Buôn lậu” và chuyển hồ sơ, tang vật cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an Thành phố H để thụ lý điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Quá trình điều tra vụ án, xác định: Khoảng tháng 6/2013, Trần Thị Bích T1 (tên gọi khác là L, L1) đại diện cho Công ty B1 (không có giấy tờ chứng minh), đến Công ty T7 liên hệ trao đổi, bàn bạc về việc đặt mua 6.000 thùng thuốc lá hiệu Craven “A” để xuất khẩu sang Campuchia, thỏa thuận này được Lê D - Giám đốc Công ty T7 và Huỳnh Dũng T2 (trưởng Chi nhánh B2) đồng ý, với điều kiện thống nhất chia ra thành 02 hợp đồng, mỗi hợp đồng ghi số lượng 3.000 thùng thuốc lá.

Thực hiện thỏa thuận trên, từ ngày 08/6/2013 đến ngày 21/8/2013, Trần Thị Bích T1 đã 09 lần chuyển khoản cho Công ty T7 với tổng số tiền là 39.902.379.320đ, trong đó thanh toán cho hợp đồng số 123L ngày 04/6/2013 số tiền 13.931.653.920đ, thanh toán cho hợp đồng số 124L ngày 06/6/2013 số tiền 23.645.454.000đ; đồng thời thanh toán (ứng trước) tiền đặt mua hàng cho hợp đồng chưa ký là 2.325.271.400đ. Huỳnh Dũng T2, giao dịch, liên hệ với Hứa C1 - Giám đốc Công ty TNHH Một thành viên T8 (viết tắt là Công ty T8), đặt vấn đề mua lô hàng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A”, T2 chỉ đạo Trung Ngọc H (kế toản trưởng Chi nhánh B2) lập tờ trình mua hàng ghi ngày 25/6/2013 và soạn thảo hợp đồng mua bán số: 22T.CNBĐ/TPCN ngày 26/6/2013, với nội dung: Công ty T7 mua của Công ty T8, số lượng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A” với giá 8.500.000đ/thùng, thành tiền 25.500.000.000đ, quy cách đóng gói 50 cây/thùng, (mỗi cây có 10 gói, mỗi gói có 20 điếu), theo phương thức thanh toán, giao hàng sau khi ký hợp đồng.

Trung Ngọc H đã soạn thảo giấy đề nghị chi ứng tiền ngày 26/6/2013, đưa cho Huỳnh Dũng T2 ký, sau đó trình cho Lê D Giám đốc và Nguyễn Thị T3 (Trưởng Phòng kế toán) Công ty T7 ký duyệt chi thanh toán cho Công ty T8, chuyển số tiền 23.033.895.000đ vào tài khoản số [...] của Công ty T8 mở tại Ngân hàng S3 - Chi nhánh B3 trước khi nhận hàng, hàng hóa sẽ được giao tại kho của Công ty T7, địa chỉ: A V, Quận F, TP Hồ Chí Minh, chi phí bốc xếp theo thỏa thuận, giao hàng tại kho bên nào bên đó chịu trách nhiệm.

Ngày 27/06/2013, Trung Ngọc H tiếp tục soạn thảo hợp đồng số: 23T/2013/CNBD/HĐMB/TPCN, nội dung: Công ty T7 mua của Công ty T8 số lượng 3.000 thùng thuốc lá nhãn hiệu Craven “A”, trị giá 25.500.000.000đ. Tổng trị giá 02 hợp đồng nêu trên là: 51.000.000.000đ.

Công ty T8 có thông báo giảm giá cho những lô hàng theo các phụ lục hợp đồng trước đó với số tiền là 4.932.210.000đ, còn lại Công ty T7 chỉ phải thanh toán cho 02 hợp đồng số 22T và số 23T với số tiền 46.067.790.000đ. Ngày 26/06/2013 và ngày 27/06/2013, Công ty T7 thực hiện chuyển khoản số tiền 46.067.790.000₫ từ tài khoàn số 7014100068008 của Công ty T7 mở tại Ngân hàng Q2 - Chi nhánh C6, chuyển vào tài khoản số [...] của Công ty T8 mở tại Ngân hàng S3 Chi nhánh B3.

Từ ngày 17/9/2013 đến ngày 20/9/2013, Công ty T8 xuất giao cho Công ty T7 08 hóa đơn GTGT số 0000314, số C, số 0000317, số 0000326, số 0000337, số 0000346, số C và số 0000351 với tổng trị giá ghi trên hóa đơn là 25.499.991.000đ, trị giá trước thuế 23.181.810.000đ; thuế GTGT: 2.318.181.000₫, (thực tế không giao hàng). Trung Ngọc H yêu cầu Lê Tiến C3 (nhân viên bán hàng) đến Công ty T8 nhận các hóa đơn GTGT đem về giao cho Trung Ngọc H để nhập số liệu kế toán, hợp thức hóa việc giao nhận hàng.

Ngày 20/9/2013, Phạm Tấn Đ1 (quyền trưởng Chi nhánh B2), chỉ đạo Trung Ngọc H soạn thảo hợp đồng ngoại thương số: 124.L/2013CNBĐ/TPCN ghi ngày 06/6/2013, với nội dung: Công ty T7 xuất bán cho Công ty B1 C.T, Import Export Co L2, địa chỉ: A DO, C, P - Campuchia, số lượng: 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A”, đơn giá: 7.881.818đ/thùng, thành tiền: 23.645.454.000đ. Trong ngày 20/9/2013, Trung Ngọc H dùng máy vi tính truy cập mạng Internet, soạn thảo, đánh máy bộ chứng từ xuất khẩu gồm: Tờ khai hải quan điện tử ghi: đơn vị xuất khẩu Công ty T7, đơn vị nhập khẩu Công ty B1 (Campuchia), hàng hóa xuất khẩu số lượng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A”, trị giá: 23.645.454.000đ; Hợp đồng mua bán (C) số: 124.L/2013CNBÐ/TPCN ngày 06/6/2013; Đơn hàng (P) số 124-2013 ngày 06/6/2013; Hóa đơn thương mại (Commercial Invoice) số 124/2013 ngày 20/9/2013; Phiếu đóng gói (Packing list) số 124/2013 ngày 20/9/2013 và Biên bản giao Thành phố T; Cảng nhập khẩu: Cảng S.

Theo chỉ đạo của Quách Văn Q, khoảng 21 giờ ngày 20/9/2013, Mai Khắc T4 (nhân viên bán hàng), đến địa chỉ số: 1755 Quốc lộ A, Phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để thực hiện việc giao nhận khống lô hàng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A” theo hợp đồng mua bán ký kết giữa Công ty T7 với Công ty T8, việc giao nhận hàng không có đại diện của Công ty T8, chỉ có đại diện của Công ty B1 (Campuchia) là Tô Nguyễn Trung H1 (bên nhận hàng) ký tên là Sok Kha trên Biên bản giao nhận hàng hóa và Mai Khắc T4 đại diện Công ty T7 ký tên (bên giao hàng). Mai Khắc T4 không thực hiện việc kiểm đếm nhận hàng theo hợp đồng, không ghi số Container, không chứng kiến việc đóng hàng vào Container nhưng vẫn thực hiện giao nhận ký khống (bên giao hàng) số lượng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A” cùng Tô Nguyễn Trung H1 ký khống (bên nhận hàng).

Trung Ngọc H sử dụng email cuahangso36@gmail.combộ chứng từ xuất khẩu khống cho Tô Nguyễn Trung H1 theo địa chỉ email: sokkha@gmail.comTừ địa chỉ email: sokkha@gmail.com, Tô Nguyễn Trung H1 chuyển bộ chứng từ trở lại cho Trung Ngọc H theo địa chỉ email: C7 mở Email và tải bộ tờ khai hải quan điện tử hàng hóa xuất khẩu đã được cấp số 19877 ghi ngày 20/9/2013, Trung Ngọc H dùng máy vi tính in bộ chứng từ ra giấy A4 có sẵn chữ ký SokchanThy và dấu của Công ty B1 C.T, H đưa cho Quách Văn Q ký nháy và trình cho Lê D - Giám đốc duyệt ký đóng dấu, sau đó giao hồ sơ cho Tô Nguyễn Trung H1 thực hiện thủ tục xuất khẩu.

Mặc dù không làm thủ tục đóng gói bao bì hàng hóa, không phân công Mai Khắc T4 đến Chi cục Hải quan C5 Khu vực IV làm thủ tục xuất khẩu lô hàng thuốc lá Craven “A”, đồng thời không tham gia đàm phán, thương thảo mua bán với Công ty B1 C.T, nhưng Lê D vẫn duyệt ký khống bộ hồ sơ chứng từ xuất khẩu 3.000 thùng thuốc lá Craven “A”, ký giấy giới thiệu số 55/9-BĐ ngày 20/9/2013 ghi sẵn tên Mai Khắc T4 - nhân viên giao nhận đến Chi cục Hải quan C5 Khu vực IV làm thủ tục xuất khẩu lô hàng. Mai Khắc T4 nhận bộ chứng từ xuất khẩu khống từ Tô Nguyễn Trung H1 cùng nhau thực hiện các thủ tục xuất khẩu lô hàng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A”. Để có số Container trong bộ hồ sơ chứng từ xuất khẩu, Tô Nguyễn Trung H1 thuê Nguyễn Quốc D1 (nhân viên xuất nhập khẩu, Công ty TNHH T9), cư trú tại: 9 C, Phường G, quận T, TP Hồ Chí Minh, đi mượn 02 Container rỗng để chứa hàng gạo trắng, D1 liên hệ với Nguyễn Thái B giám đốc Công ty S4, thuê 02 Container rỗng số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 để chứa gạo, vận chuyển sang Campuchia. Nguyễn Thái B đã liên hệ với hãng tàu MCC - Công ty TNHH M để thuê lại 02 Container rỗng số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 giao cho Nguyễn Quốc D1, D1 giao cho Tô Nguyễn Trung H1 để thực hiện việc đóng hàng. Ngày 21/9/2013, Tô Nguyễn Trung H1, thuê xe tải của Công ty TNHH P2, vận chuyển 02 Container rỗng số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 về kho hàng số 1755 Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để bốc xếp gạo, H1 thuê xe ô tô tải biển kiểm soát 57K - 5856 và biển kiểm soát 57K- 6876 vận chuyển 02 Container số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 vào bãi C -Transimex cùng với bộ C8, P1 list, mang tên Công ty TNHH S5, mã số thuế: 4200473981, trụ sở tại Lô F, Khu Công nghiệp S, tỉnh Khánh Hòa, ghi hàng xuất là 21.000kg thực phẩm. Tô Nguyễn Trung H1 giao cho Nguyễn Quốc D1 bộ chứng từ xuất khẩu hàng hóa theo Hợp đồng ngoại thương số:124.L/2013 CNBĐ/TPCN, ghi ngày 06/6/2013, kèm theo giấy giới thiệu ghi tên Mai Khắc T4, trực tiếp đến Chi cục Hải quan C9 làm thủ tục xuất khẩu cho lô hàng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A”; tuy nhiên, thực tế lô hàng chứa trong 02 container số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 là 20.000kg gạo trắng.

Hãng tàu MCC thực hiện vận chuyển hàng đến Campuchia, dựa vào các thông tin do Nguyễn Quốc D1 cung cấp để lập Bill tàu số SITSGSVG034654 với nội dung: Đơn vị gửi hàng là Công ty S6, trụ sở: A N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (S); đơn vị nhận hàng là B4 (C), trụ sở tại địa chỉ: V, đường B, Sangkat toek L, Khan Toul K, PhnomPenh - Cambodia; 02 Container số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447, được vận chuyển trên tàu SITIC Bangkok V1322S, khởi hành ngày 23/9/2013 từ Cảng C TP Hồ Chí Minh đến Cảng S - Campuchia, hàng hóa trong 02 Container là 400 bao gạo trắng, trọng lượng 20.000kg.

Ngày 16/01/2014, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định khởi tố bị can, Lệnh bắt, khám xét đối với Lê D, Hứa C1. Trần Thị Bích T1, Tô Nguyễn Trung H1, Nguyễn Quốc D1, Quách Văn Q, Mai Khắc T4, Phạm Tấn Đ1 và Lê Tiến C3, về tội “Buôn lậu”. Các bị cáo đã bị đưa ra xét xử theo Bản án số 386/2016/HSST ngày 11/11/2016 và Bản án số 337/2017/HSPT ngày 05/7/2017 của Tòa án Nhân dân Cấp cao tại TP Hồ Chí Minh

Riêng bị cáo Tô Nguyễn Trung H1 bỏ trốn sang Campuchia. Đến ngày 11/10/2022, Tô Nguyễn Trung H1 ra đầu thú tại Đồn Biên phòng - Cửa khẩu Quốc tế M1, tỉnh Tây Ninh. Công an tỉnh T đã tiếp nhận và bàn giao H1 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H.

Ngày 17/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố H ra Quyết định phục hồi điều tra vụ án, Quyết định phục hồi điều tra đối với Tô Nguyễn Trung H1 để điều tra xử lý theo quy định của pháp luật.

Tại Cơ quan điều tra, Tô Nguyễn Trung H1 khai: H1 làm tài xế cho S ChanThy giám đốc Công ty B1 C.T, tên Sok K1 là do S ChanThy đặt cho H1, theo chỉ đạo của Sok ChanThy, vào ngày 07/9/2013, ngày 09/9/2013, H1 đến Công ty T7 – Chi nhánh B2 gặp Mai Khắc T4 để ký Biên bản giao nhận hàng hóa (biên bản khống), nội dung thể hiện việc giao nhận 02 lần với số lượng 3000 thùng thuốc lá Caraven “A” ký với Mai Khắc T4, thực tế H1 không nhận hàng hóa gì. Ngoài ra, H1 khai ngày 21/9/2013, theo chỉ đạo của Sok ChanThy, H1 đến Công ty T7 để nhận bộ hồ sơ chứng từ xuất khẩu lô hàng thuốc lá Caraven “A” do nhân viên bảo vệ (không rõ tên) cầm ra đưa cho H1. Sau đó, H1 đi xe máy xuống Cảng ICD T đưa cho Nguyễn Quốc D1 bộ hồ sơ chứng từ xuất khẩu gồm: Hợp đồng ngoại thương số 124.L/2013 CNBĐ/TPCN, ngày 26/6/2013, hàng hóa xuất khẩu là 3.000 thùng thuốc lá xuất do Công ty T7 xuất cho Công ty B1 C.T, kèm theo Invoice số 124, Packing list số 124 và giấy giới thiệu ghi tên Mai Khắc T4 đến Hải quan Cảng ICD Transimex làm thủ tục xuất khẩu lô hàng 3.000 thùng thuốc lá Caraven “A” theo bộ hồ sơ, tuy nhiên thực tế lô hàng chứa trong 02 container số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 là 20.000kg gạo trắng. H1 khai việc thuê kho, thuê 02 container rỗng số DFSU 6684861 và số IGHU 6056447 và thuê xe tải vận chuyển về kho số A Quốc lộ A, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để chất hàng là do S ChanThy giám đốc Công ty B1, chỉ đạo thực hiện.

Trung Ngọc H, khai: Tháng 01/2008, H xin vào làm kế toán và ký hợp đồng lao động với Công ty T7, trụ sở tại số: 1 N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh, do ông Từ Minh H2 là giám đốc, H được phân công làm kế toán, đến tháng 01/2013, Vũ Thị Thùy D2 tổ trưởng kế toán Chi nhánh B2 xin nghỉ việc vì lý do cá nhân, thì H được Nguyễn Thị T3 kế toán trưởng Công ty T7 phân công H về Chi nhánh B2 thay cho Vũ Thị Thùy D2, đến tháng 02/2013 H mới chính thức về làm kế toán tại Chi nhánh B2, làm việc dưới sự chỉ đạo của Huỳnh Dũng T2 (Trưởng chi nhánh), và Quách Văn Q1 (phó chi nhánh), ngoài ra H chịu sự chỉ đạo chuyên môn của kế toán trưởng là Nguyễn Thị T3, nhiệm vụ cụ thể của H hàng ngày là theo dõi hàng hóa mua bán và công nợ, theo dõi bộ phận xuất khẩu của chi nhánh; soạn thảo đánh máy vi tính các hợp đồng kinh tế mua bán hàng hóa trong nước, soạn thảo đánh máy vi tính các hợp đồng ngoại thương, tờ khai hải quan, đơn hàng, hóa đơn thương mại, phiếu đóng gói, tờ trình mua hàng, tờ trình đề xuất ứng tiền thanh toán.

Về lô hàng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A” xuất bán cho Công ty B1 (Campuchia), bị Cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện vào ngày 24/9/2013 là 20.000kg gạo trắng, H khai: Ngày 26/6/2013, Huỳnh Dũng T2 chỉ đạo Trung Ngọc H soạn thảo hợp đồng số: 22T CN Bình Đông/HĐMB/TPCN nội dung: Công ty T7 mua của Công ty T8, số lượng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A”, đơn giá: 8.500.000đ/thùng, thành tiền: 25.500.000.000đ; quy cách đóng gói 50 cây/thùng, (mỗi cây có 10 gói, mỗi gói có 20 điếu); phương thức thanh toán, giao hàng sau khi ký hợp đồng. H làm giấy đề nghị chi ứng tiền ngày 26/6/2013 trình cho Huỳnh Dũng T2 ký, sau đó trình lên cho giám đốc Lê D giám đốc và Nguyễn Thị T3 (trưởng Phòng kế toán) Công ty T7 ký duyệt chi thanh toán tiền mua hàng cho Công ty T8, với tổng số tiền 46.067.790.000đ, sau đó Công ty T7 thực hiện chuyển số tiền 23.033.895.000đ vào tài khoản số [...] của Công ty T8 mở tại Ngân hàng S3 - Chi nhánh B3, trước khi nhận hàng, hàng hóa sẽ được giao tại kho của Công ty T7 (Chi nhánh B2), địa chỉ: A V, Quận F, Thành phố Hồ Chí Minh, chi phí bốc xếp theo thỏa thuận, giao hàng tại kho bên nào bên đó chịu trách nhiệm. Đồng thời, ngày 27/06/2013, Huỳnh Dũng T2 chỉ đạo Hiếu soạn thảo hợp đồng số 23T/2013/ CNBĐ với nội dung: Công ty T7 mua của Công ty T8 số lượng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A”, trị giá: 25.500.000.000đ. Tổng trị giá 02 hợp đồng là 51.000.000.000đ.

Ngày 20/9/2013, theo chỉ đạo của Phạm Tấn Đ1 (quyền trưởng chi nhánh B2), do Chi nhánh bị mất điện, H mang đầu CPU máy vi tính cá nhân của H lên trụ sở Công ty T7, tại địa chỉ: 1, N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để đánh máy, soạn thảo hợp đồng mua bán ngoại thương số: 124L/CNBÐ/HĐMB/TPCN, thời gian ghi lùi ngày hợp đồng là ngày 06/6/2013 để cho phù hợp thời điểm chuyển tiền thanh toán, H thừa nhận không thực hiện chứng kiến việc giao nhận lô hàng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A”, không kiểm tra hàng hóa thực tế có nhập về kho hay không, nhưng theo chỉ đạo của Phạm Tấn Đ1, H đã soạn thảo bộ chứng từ xuất khẩu, gồm: hợp đồng mua bán (tiếng Việt và tiếng Anh); tờ khai hải quan xuất khẩu, đơn hàng, hóa đơn thương mại, phiếu đóng gói, tờ trình ứng tiền thanh toán, thể hiện Công ty T7 xuất bán cho Công ty B1 (Campuchia), số lượng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A”, đơn giá: 7.881.818đ/thùng; thành tiền: 23.645.454.000đ, H sử dụng giấy A4 có sẵn chữ ký của SokChanThy và dấu của Công ty B1 C.T đóng sẵn để in ra từ máy vi tính và đưa cho Quách Văn Q ký nháy hợp đồng để Q trình cho giám đốc Lê D duyệt ký bộ chứng từ. Trung Ngọc H sử dụng Email cuahangso36@gmail.combộ chứng từ cho Tô Nguyễn Trung H1 theo địa chỉ E: sokkha@gmail.comsau đó từ địa chỉ E: sokkha@gmail.com Tô Nguyễn Trung H1 chuyển bộ chứng từ trở lại cho Trung Ngọc H theo địa chỉ E: C7 mở Email và tải bộ tờ khai hải quan điện tử hàng hóa xuất khẩu đã được cấp số 19877 ghi ngày 20/9/2013, Trung Ngọc H dùng máy vi tính in bộ chứng từ ra giấy A4 và đưa cho Phạm Tấn Đ1 (quyền trưởng Chi nhánh B2) ký nháy, trình lên cho Lê D - Giám đốc duyệt ký đóng dấu, sau đó giao bộ hồ sơ chứng từ cho Phạm Tấn Đ1 hoặc Quách Văn Q để trình cho giám đốc Lê D duyệt ký, và giao cho khách hàng Tô Nguyễn Trung H1 đại diện cho Công ty B1 C.T, thực hiện thủ tục xuất khẩu, tuy nhiên lô hàng đã bị Cơ quan chức năng kiểm tra phát hiện bên trong Container là 20.000kg gạo trắng, không phải số lượng 3.000 thùng thuốc lá Craven “A” như khai báo hải quan.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HSST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 188; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 58, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt Trung Ngọc H 01 năm 06 tháng tù về tội “Buôn Lậu”, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt cho bị cáo khác; án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 18/01/2024, bị cáo Trung Ngọc H kháng cáo xin được hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị cáo Trung Ngọc H vẫn giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, bị cáo chỉ là cấp dưới, làm việc theo sự chỉ đạo của cấp trên, vai trò hạn chế và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đủ điều kiện được hưởng án treo. Bị cáo có cung cấp thêm các tài liệu về việc gia đình chồng bị cáo có được tặng thương huân chương kháng chiến, có công với cách mạng.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày ý kiến: Thời gian diễn ra sự việc, bị cáo mới được điều chuyển từ nơi khác đến, bị cáo chỉ là cấp dưới, làm việc theo sự chỉ đạo của cấp trên, bị cáo không biết các bị cáo khác đã ký giả chữ ký dưới các tài liệu kê khai thuế và chỉ thực hiện việc đánh máy, trình ký các tài liệu theo yêu cầu của các bị cáo khác. Vai trò của bị cáo trong vụ án là hạn chế, chỉ là đồng phạm giản đơn. Trong khi đó, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, đang có công việc ổn định là kế toán tại Phòng Công chứng nên đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Tòa án cấp sơ thẩm kết án bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Buôn lậu” theo khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp thêm các tài liệu thể hiện gia đình chồng bị cáo có công với cách mạng. Tuy nhiên, đây không phải là chứng cứ quan trọng thay đổi cơ bản nội dung vụ án, nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Trung Ngọc H làm trong hạn luật định, là hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

Mặc dù hành vi phạm tội của Trung Ngọc H thực hiện vào năm 2013, bị xem xét khởi tố, truy tố về tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 153 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009. Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, tội “Buôn lậu” có bổ sung hình phạt tiền. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng nguyên tắc có lợi cho bị cáo để xét xử bị cáo Trung Ngọc H về tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo Trung Ngọc H tại phiên tòa phù hợp với lời khai nhận tội của bị cáo trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu khác của vụ án đã được thu thập trong quá trình điều tra và vụ án còn được chứng minh qua các tài liệu, chứng cứ hồ sơ vụ án, Bản án hình sự sơ thẩm số 386/2016/HSST ngày 11/11/2016 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh và Bản án hình sự phúc thẩm số 337/2017/HSPT ngày 05/7/2017 của Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử đối với bị cáo Lê D, Hứa C1, Trần Thị Bích T1 và đồng phạm, có đủ cơ sở xác định:

Để tạo dựng hồ sơ xuất khẩu khống thuốc lá của công ty T7 bán cho Công ty B1 (Campuchia) nhằm để giúp sức cho Lê D, Hứa C1, Trần Thị Bích T1 chiếm đoạt tiền thông qua việc hoàn thuế giá trị gia tăng, các bị cáo Tô Nguyễn Trung H1, Trung Ngọc H đã có các hành vi cụ thể như sau:

Tô Nguyễn Trung H1 là người do S1 cử đại diện cho phía công ty B1 C.T tại Việt Nam, bị cáo đã tự ký khống tên ghi Sok K1 là người nhận hàng trong biên bản giao nhận hàng hóa giữa Công ty T7 (Công ty T7) bán cho Công ty B1 C.T, bị cáo trực tiếp đến Công ty T7 để nhận bộ hồ sơ chứng từ xuất khẩu khống số lượng 3.000 thùng thuốc lá điếu hiệu Craven “A”, ghi trị giá 23.645.454.000đ, sau đó bị cáo thuê Nguyễn Quốc D1 làm thủ tục xuất khẩu khống hàng hóa là 3.000 thùng thuốc lá hiệu Craven "A" sang Campuchia nhưng thực tế hàng hóa trong container là 400 bao gạo, trọng lượng 20.000kg trị giá 190.000.000 đồng.

Trung Ngọc H là tổ trưởng kế toán Chi nhánh B2, bị cáo có trách nhiệm theo dõi sổ sách kế toán, hàng hóa nhập, xuất, công nợ khách hàng. Bị cáo biết Huỳnh Dũng T2 lưu giữ 196 tờ giấy A4 có chữ ký khống, không ghi nội dung, đã được đóng dấu sẵn từ trước do Trần Thị Bích T1 ký giả chữ ký SokChanThy đóng dấu giám đốc Công ty B1 và ký giả chữ ký của Sok S2 đóng dấu giám đốc Công ty D4, biết việc Tô Nguyễn Trung H1 ký giả mạo tên là Sok K1 (tiếng Campuchia), nhưng bị cáo vẫn thực hiện theo sự chỉ đạo của Huỳnh Dũng T2, Phạm Tấn Đ1, Quách Văn Q sử dụng giấy A4 có sẵn chữ ký giả mạo của khách hàng để soạn thảo in ấn các hợp đồng, chứng từ xuất khẩu khống, gồm: Hợp đồng ngoại thương (Contract) số 124.L/2013CNBĐ/TPCN ngày 06/6/2013; Đơn hàng (P); Hóa đơn thương mại (Invoice); Phiếu đóng gói (P3), trình các chứng từ cho Huỳnh Dũng T2, Phạm Tấn Đ1 ký nháy, Lê D giám đốc Công ty T7 duyệt ký đóng dấu, chuyển bộ chứng từ qua E cho Tô Nguyễn Trung H1 để Tô Nguyễn Trung H1 đăng ký mở tờ khai thực hiện thủ tục hải quan xuất khẩu khống lô hàng 3.000 thùng thuốc lá C4 “A”, nhưng thực tế là 20.000kg gạo trắng, có trị giá: 190.000.000 đồng, giao bộ chứng từ cho Nguyễn Quốc D1 làm thủ tục xuất khẩu khống.

Tòa án cấp sơ thẩm đã kết án các bị cáo Tô Nguyễn Trung H1, Trung Ngọc H về tội “Buôn lậu” với vai trò đồng phạm giúp sức cho Lê D, Hứa C1, Trần Thị Bích T1 theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 188 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét kháng cáo của bị cáo Trung Ngọc H xin được hưởng án treo thấy rằng: Trong vụ án này, Trung Ngọc H được điều chuyển đến làm việc từ tháng 01/2013, là cấp dưới phải làm việc theo sự chỉ đạo của các bị cáo khác. Nhiệm vụ chính của bị cáo là soạn thảo in ấn các hợp đồng, chứng từ xuất khẩu theo chỉ đạo của các bị cáo khác, chuyển bộ chứng từ cho Tô Nguyễn Trung H1. Đánh giá vai trò, hành vi của Trung Ngọc H so với Huỳnh Dũng T2, Phạm Tấn Đ1, Quách Văn Q, Tô Nguyễn Trung H1 thì Trung Ngọc H chỉ có là đồng phạm giúp sức, có vai trò hạn chế, không đáng kể. Do vậy, bị cáo đủ điều kiện được áp dụng khoản 2 Điều 54 Bộ luật Hình sự, thuộc trường hợp phạm tội lần đầu, là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể. Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi mà bị cáo thực hiện.

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, xét xử bị cáo Trung Ngọc H đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo chỉ là nhân viên vì cuộc sống mưu sinh phải thực hiện nhiệm vụ theo sự phân công chỉ đạo của cấp trên, bị cáo đã tích cực hợp tác giúp đỡ Cơ quan điều tra sớm kết thúc điều tra vụ án, gia đình bị cáo có công (cha bị cáo được tặng thưởng huân chương chiến sĩ vẻ vang). Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm các chứng cứ về việc mẹ chồng của bị cáo được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Do vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định. Từ khi xảy ra sự việc năm 2013 đến nay, bị cáo vẫn sinh sống ổn định tại nơi cư trú. Bị cáo đã tích cực hợp tác với cơ quan điều tra để sớm kết thúc vụ án. Do vậy, thấy rằng bị cáo có khả năng tự cải tạo, đồng thời, đối chiếu với các quy định tại Nghị quyết 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, bị cáo đủ điều kiện hưởng án treo. Việc cho bị cáo hưởng án treo là không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Trên cơ sở đó, có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trung Ngọc H về việc xin được hưởng án treo.

Nhận định của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh không phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.

Ý kiến của bị cáo và ý kiến bào chữa của Luật sư phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[3] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo được chấp nhận nên bị cáo Trung Ngọc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trung Ngọc H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm hình sự của bị cáo Trung Ngọc H như sau:

    Tuyên bố bị cáo Trung Ngọc H phạm tội “Buôn lậu”;

    Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 188; các điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;

    Xử phạt Trung Ngọc H 01 năm 06 tháng tù về tội “Buôn lậu” nhưng cho bị cáo được hưởng án treo, thời gian thử thách là 36 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (11/11/2024).

  2. Giao bị cáo Trung Ngọc H cho Ủy ban nhân dân phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
  3. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  4. Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Trung Ngọc H không phải chịu án phí phúc thẩm.
  5. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

Các Thẩm phán

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Phạm Thị D3 – L

Bùi Thị T5

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao; (1)
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - TAND TP. Hồ Chí Minh; (2)
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Công an TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Bị cáo tại ngoại; (1)
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh; (1)
  • - Lưu: VP, HS (ĐTM) (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1047/2024/HS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về buôn lậu (hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 1047/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Buôn lậu (Hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trung Ngọc H. Sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2024/HS-ST ngày 17/01/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phần trách nhiệm hình sự của bị cáo Trung Ngọc H.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger