Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN BÌNH THẠNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1047/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/6/2024

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Nguyễn Thị Nhơn
  • 2. Bà Lâm Thị Hoàng Oanh

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mỹ Trang là Thư ký Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngọc H – Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 0231/2024/TLST-HNGĐ ngày 29 tháng 01 năm 2024 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 182/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 166/QĐST-HNGĐ ngày 17 tháng 5 năm 2024, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Mai Minh T; địa chỉ: Số TK4/13 Võ Văn Kiệt, phường Cầu Kho, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

2. Bị đơn: Bà Tăng Thị Thanh V; địa chỉ: Số H N, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 10/8/2023, bản khai và các biên bản của Tòa án, nguyên đơn là ông Mai Minh T trình bày:

Ông và bà Tăng Thị Thanh V tự nguyện kết hôn, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số 112, quyển số 01/2011 ngày 09/08/2011. Ông bà chung sống hạnh phúc được một thời gian thì nảy sinh mâu thuẫn do đôi bên bất đồng về quan điểm sống, tính cách không hợp. Mặc dù ông bà đã cố gắng để giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không có kết quả. Ông bà đã ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Nhận thấy, mâu thuẫn giữa đôi bên đã trầm trọng, vợ chồng không còn tình cảm, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông xin ly hôn với bà V.

Về con chung: Có 02 con chung là Mai Ngọc Phương V1 sinh ngày 17/03/2012 và Mai Ngọc Gia H1 sinh ngày 08/05/2021. Hiện nay, hai trẻ đang ở với bà Tăng Thị Thanh V nên ông đồng ý giao cho bà V trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết..

Bị đơn là bà Tăng Thị Thanh V đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến Tòa án để tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không nộp cho Tòa án bản trình bày ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn

Đại diện VKSND quận Bình Thạnh tham gia phiên tòa phát biểu:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong quá trình chuẩn bị xét xử cũng như tại phiên tòa. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng. Bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về việc giải quyết vụ án: Trong thời gian chung sống, giữa nguyên đơn và bị đơn phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, cãi cọ, im lặng kéo dài. Mối quan hệ không thể hàn gắn và mâu thuẫn không thể giải quyết được. Mục đích hôn nhân không đạt được. Đôi bên đã ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Bị đơn không có mặt, không có ý kiến cho thấy bị đơn đã không còn quan tâm đến cuộc hôn nhân này. Căn cứ theo Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở. Nguyên đơn không yêu cầu nuôi dưỡng con chung. Hiện nay hai con chung đang ở cùng với mẹ, lại là bé gái xem xét cho 2 bé được mẹ trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng sẽ hợp lý hơn. Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con, về tài sản chung nên không xem xét. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tranh chấp về việc ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về sự có mặt của của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm. Nguyên đơn có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[3] Về các yêu cầu của đương sự.

[3.1] Xét yêu cầu ly hôn của nguyên đơn:

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 112, quyển số 01 ngày 09/08/2011 do Ủy ban nhân dân Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho ông Mai Minh T và bà Tăng Thị Thanh V thể hiện quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hợp pháp. Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với lý do hôn nhân không hạnh phúc, đôi bên mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và hai bên đã ly thân từ tháng 6 năm 2023 đến nay. Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án, bị đơn không đến tòa để tham gia các phiên hòa giải, không nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình về yêu cầu của nguyên đơn. Điều đó chứng tỏ bị đơn không quan tâm đến việc hàn gắn tình cảm vợ chồng và xây dựng hạnh phúc gia đình. Nhận thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng lẫn nhau và cùng mong muốn xây dựng hạnh phúc gia đình thì mục đích hôn nhân mới đạt được. Nay mâu thuẫn giữa nguyên đơn và bị đơn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được và trên thực tế, đời sống vợ chồng của các đương sự không còn nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

[3.2] Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là Mai Ngọc Phương V1 sinh ngày 17/03/2012 và Mai Ngọc Gia H1 sinh ngày 08/05/2021 đang do bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng. Bị đơn không nộp cho Tòa án văn bản trình bày ý kiến về việc nuôi con. Nguyên đơn yêu cầu được giao con cho bị đơn trực tiếp nuôi dưỡng và không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng. Do bị đơn không đến Tòa án theo giấy triệu tập và không đưa con đến Tòa án để lấy ý kiến của trẻ, Tòa án đã tiến hành đến nơi trẻ V1 học để lấy ý kiến về nguyện vọng của trẻ muốn ở với cha hay mẹ khi cha, mẹ ly hôn nhưng vì trẻ V1 đã được bị đơn xin phép nghỉ học nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của trẻ. Bị đơn không có ý kiến phản đối yêu cầu của nguyên đơn về việc giao con cho bị đơn nuôi dưỡng. Căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Luật Hôn nhân và gia đình, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.

Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[3.3] Về tài sản chung: Đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên căn cứ Điều 5 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử không xem xét.

[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 5, khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 266, Điều 271, Điều 273; Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn – ông Mai Minh T:
    • 1.1. Về quan hệ vợ chồng: Ông Mai Minh T được ly hôn với bà Tăng Thị Thanh V.
    • 1.2. Về con chung: Giao cho bà Tăng Thị Thanh V trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục trẻ Mai Ngọc Phương V1 sinh ngày 17/03/2012 và Mai Ngọc Gia H1 sinh ngày 08/05/2021. Ông Mai Minh T, bà Tăng Thị Thanh V không yêu cầu Tòa án giải quyết về việc cấp dưỡng nuôi con.
    • Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con mà không ai được cản trở. Vì quyền lợi của trẻ, khi có căn cứ, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
    • 1.3. Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  2. Về án phí: Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng, ông Mai Minh T phải chịu nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0044616 ngày 09/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh. Ông Mai Minh T đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
  3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND Q.Bình Thạnh;
  • - Chi cục THADS Q.Bình Thạnh;
  • - UBND P.Cầu Kho, Quận 1,
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1047/2024/HNGĐ-ST ngày 10/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 1047/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH THẠNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn yêu cầu ly hôn, giao con cho bị đơn, không tranh chấp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger