|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 1046/2024/HS-PT
Ngày: 11 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Toàn
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Hùng
Bà Nguyễn Thị Thanh
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Tấn Cường - Kiểm sát viên.
Vào các ngày 04 và 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 796/2024/TLPT- HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo Lê Thanh H, Nguyễn Thị Q do kháng cáo của các bị hại Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1 đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
Bị cáo bị kháng cáo:
1. Lê Thanh H, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1970 tại tỉnh Bình Dương; nơi cư trú: Tổ A, Ấp C, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1 và bà Trần Thị H2; có vợ là bà Đoàn Sơn H3 (đã ly hôn năm 2014), bà Nguyễn Thị Q (là bị cáo trong cùng vụ án, ly hôn năm 2019); có 02 con (lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2006); tiền án, tiền sự: không; bị bắt, tạm giam từ ngày 10 tháng 12 năm 2019 đến nay; hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam - Công an tỉnh B (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
2. Nguyễn Thị Q, sinh ngày 10 tháng 3 năm 1983 tại tỉnh Phú Yên; nơi đăng ký thường trú: thôn T, xã X, thị xã S, tỉnh Phú Yên; nơi tạm trú: Số C, đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: thợ làm tóc; trình độ văn hóa (học vấn): lớp 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn X và bà Huỳnh Thị H4; có chồng là ông Nguyễn
Huy P (kết hôn tháng 6 năm 2020), ông Lê Thanh H (là bị cáo trong cùng vụ án, ly hôn tháng 3 năm 2019); có 02 con (sinh đôi năm 2022); tiền án, tiền sự: không; bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và giao cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương quản lý theo dõi từ ngày 20 tháng 3 năm 2023 đến nay (có mặt tại phiên tòa, vắng mặt khi tuyên án).
- Bị hại:
1. Ông Trần Thanh S, sinh năm 1973; nơi cư trú: B, Ấp B, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; tạm trú: Số B, Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
2. Ông Nguyễn Thanh S1, sinh năm 1971; nơi cư trú: 77/25/10 Khu phố F; phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Lê Thanh H: Ông Nguyễn Văn T là Luật sư thuộc Văn phòng L - Đoàn Luật sư thành phố H (vắng mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Q: Bà Châu Thị N là Luật sư thuộc Công ty L1 - Đoàn Luật sư tỉnh B (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu tháng 11 năm 2017, bị cáo Lê Thanh H thỏa thuận nhận chuyển nhượng từ bà Phạm Thị N1 thửa đất số 1725 (tờ bản đồ số 13-2, diện tích 1448,7 m², tại phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương) với giá 2.300.000.000 (hai tỷ, ba trăm triệu) đồng, đặt cọc 300.000.000 (ba trăm triệu) đồng và 01 xe ô tô 07 chỗ Innova trị giá 480.000.000 (bốn trăm tám mươi triệu) đồng, hẹn 30 ngày sau sẽ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và giao số tiền còn lại.
Giữa tháng 11 năm 2017, thông qua giới thiệu của ông Nguyễn Thanh S1, bị cáo H nói với ông Trần Thanh S là đang làm thủ tục nhận chuyển nhượng thửa đất số 1725 của bà N1, nếu ông Trần Thanh S muốn mua thì bị cáo H sẽ chuyển nhượng lại với giá 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng. Bị cáo H đưa ông Trần Thanh S xem bản sao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất số 1725 và bản trích lục địa chính mang tên bà Nguyễn Thị O. Bị cáo H dẫn các ông Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1 đến thửa đất số 1725 để xem nhiều lần, có lần có bị cáo Nguyễn Thị Q (vợ của bị cáo H) đi cùng. Ông Trần Thanh S đồng ý nhận chuyển nhượng thửa đất 1725 với giá 4.000.000.000 (bốn tỷ) đồng, lập hợp đồng đặt cọc 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng ngày 30 tháng 12 năm 2017, hẹn sau 45 ngày sau sẽ công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì giao hết số tiền còn lại.
Đến hạn nhưng không thấy bị cáo H liên hệ ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất nên bà N1 nhiều lần yêu cầu bị cáo H thực hiện cam kết thì bị cáo H nói với bà N1 là bị cáo H không đủ tiền nên bà N1 muốn bán cho ai thì bán. Cuối tháng 01 năm 2018, bà N1 và bị cáo H thỏa thuận lập giấy hủy hợp đồng đặt cọc chuyển nhượng thửa đất số 1725. Bà N1 đã trả bị cáo H 150.000.000 (một
trăm năm mươi triệu) đồng và đã thất lạc giấy hủy hợp đồng đặt cọc.
Bị cáo H không cho các ông Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1 biết đã hủy hợp đồng đặt cọc với bà N1 mà vẫn tiếp tục nhận tiền từ các ông Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1 nhiều lần (Sau khi ông Trần Thanh S thỏa thuận nhận chuyển nhượng đất từ bị cáo H, ông Nguyễn Thanh S1 hùn tiền cùng nhận chuyển nhượng đất với ông Trần Thanh S), có lần cùng đi với bị cáo Q để nhận tiền. Đến ngày 15 tháng 5 năm 2018, tổng số tiền bị cáo H nhận từ các ông Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1 là 1.900.000.000 (một tỷ, chín trăm triệu) đồng (trong đó của ông Trần Thanh S là 1.500.000.000 (một tỷ, năm trăm triệu) đồng, của ông Nguyễn Thanh S1 là 400.000.000 (bốn trăm triệu) đồng). Từ ngày 15 tháng 5 năm 2018, đến ngày 27 tháng 6 năm 2018, bị cáo H nhận thêm của ông Nguyễn Thanh S1 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng.
Đầu tháng 7 năm 2018, bị cáo H liên hệ với người đàn ông tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch), đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 1725 (số CL843470; tờ bản đồ số 13-2; địa chỉ phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; diện tích 1.448,3m²; mang tên Nguyễn Thị Q do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 18 tháng 5 năm 2018, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05699) với giá 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng và để ở phòng ngủ tại quán ăn S2 của bị cáo H và bị cáo Q.
Ngày 28 tháng 6 năm 2018, bị cáo H nói với bị cáo Q là khi nào ông Trần Thanh S đến thì đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Trần Thanh S và nhận 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng thì bị cáo Q đồng ý. Khoảng hai ngày sau, khi ông Trần Thanh S đến lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bị cáo Q lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (giấy giả do bị cáo H để sẵn) đưa cho ông Trần Thanh S thì thấy giấy do bị cáo Q đứng tên. Mặc dù không có đất mà giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên mình nhưng bị cáo Q vẫn đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đó cho ông Trần Thanh S để nhận 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
Khi ông Trần Thanh S biết giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bị cáo Q là giả, các ông Nguyễn Thanh S1 và ông Trần Thanh S gặp các bị cáo H và Q thì bị cáo H nói là nhờ người khác làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không biết, hứa sẽ gặp người làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để nói chuyện rồi né tránh và cắt liên lạc. Bị cáo Q trả ông Trần Thanh S 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
Vật chứng cơ quan Công an thu giữ gồm:
01 (một) Giấy chứng nhận (quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất) giả (mang tên Nguyễn Thị Q có Số vào sổ cấp GCN: CS05699) (bút lục số 60 và 61) và 01 (một) Giấy xác nhận đề ngày 15 tháng 5 năm 2018 (bút lục số 55).
Cơ quan điều tra trưng cầu giám định:
Tại Bản kết luận giám định số 253/GĐ-PC54 ngày 15 tháng 8 năm 2018, Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: 01 (một) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
số CL 843470, mang tên Nguyễn Thị Q là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Tại Bản kết luận giám định số 364/GĐ-PC09 ngày 27 tháng 9 năm 2019, Phòng K - Công an tỉnh B kết luận: Chữ ký, chữ viết họ tên “Lê Thanh H” trên hai bản “hợp đồng đặt cọc tiền chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất” cùng đề ngày 30/12/2017 và trên một “giấy xác nhận về việc nhận tiền đất” so với chữ viết chữ ký của Lê Thanh H là do cùng một người ký và viết ra.
Tại Bản kết luận giám định số 5142/C09B ngày 08 tháng 10 năm 2020, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – V kết luận: không xác định được các chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Q”, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Q” trên “giấy xác nhận V/v về việc nhận tiền đất” đề ngày 15/5/2018 là được viết ra vào thời gian nào, có cùng một thời gian hay không.
Tại Bản kết luận giám định số 5171/C09B ngày 21 tháng 12 năm 2020, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh – V kết luận: Chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Q”, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Q” trên tài liệu cần giám định được viết ra từ cùng một loại mực, cùng một cây bút. Chữ ký mang tên “Lê Thanh H”, chữ viết họ tên “Lê Thanh H” trên tài liệu cần giám định không được viết ra từ cùng một loại mực và không cùng một cây bút. Chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Q”, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Q” so với chữ ký mang tên “Lê Thanh H”, chữ viết họ tên “Lê Thanh H” trên cùng tài liệu cần giám định là không được viết ra từ cùng một loại mực và không cùng một cây bút. Không đủ cơ sở kết luận các chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Q”, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Q” trên cùng một tài liệu cần giám định là có được viết ra cùng một thời điểm hay không. Các chữ ký mang tên “Lê Thanh H”, chữ viết họ tên “Lê Thanh H” trên cùng tài liệu cần giám định là không cùng viết ra cùng một thời điểm. Không đủ cơ sở kết luận các chữ ký mang tên “Nguyễn Thị Q”, chữ viết họ tên “Nguyễn Thị Q” so với các chữ ký mang tên “Lê Thanh H”, chữ viết họ tên “Lê Thanh H” trên cùng tài liệu cần giám định là có được viết ra cùng một thời điểm hay không.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 63/2021/HS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021, Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2019.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị Q cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T,
tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử giải thích về án treo cho bị cáo được hưởng án treo.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị hại có kháng cáo với nội dung Tòa án cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm.
Ngày 17 tháng 11 năm 2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 58/QĐ/VC3-V1, đề nghị Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm hủy Bản án hình sự số 63/2021/HS-ST ngày 18 tháng 10 năm 2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra, xét xử lại vì có dấu hiệu bỏ lọt đồng phạm và việc xử phạt bị cáo Lê Thanh H tội danh “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là không đúng.
Tại Bản án hình sự phúc thẩm số 284/2022/HS-PT ngày 09 tháng 5 năm 2022, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh quyết định:
Hủy bản án hình sự sơ thẩm số 63/2021/HS-ST ngày 18/10/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. Chuyển hồ sơ vụ án cho Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương để điều tra, truy tố và xét xử lại theo trình tự sơ thẩm.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:
Căn cứ vào các khoản 1, 2 Điều 260; Điều 268; khoản 1 Điều 269; khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tuyên bố bị cáo Lê Thanh H phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” và bị cáo Nguyễn Thị Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 341; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 54; Điều 55; Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 10 (mười) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, 01 (một) năm tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”, tổng hợp hình phạt buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung 02 (hai) tội là 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20 tháng 3 năm 2023.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị Q cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử giải thích về án treo cho bị cáo được hưởng án treo.
Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); các Điều 13, 584, 585, 587 và 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Buộc bị cáo Lê Thanh H trả các bị hại Nguyễn Thanh S1 và Trần Thanh S 1.400.000.000 (một tỷ bốn trăm triệu đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự với lãi suất quy định tại Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo Nguyễn Thị Q về việc không yêu cầu bị cáo Lê Thanh H trả những khoản tiền bị cáo Nguyễn Thị Q đã trả và thay bị cáo Lê Thanh H trả các bị hại Nguyễn Thanh S1 và Trần Thanh S.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26/7/2024, bị hại ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1 có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm tăng nặng hình phạt, không cho bị cáo Q được hưởng án treo và xử bị cáo Q theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự là đồng phạm với bị cáo H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
1. Phần xét hỏi và phần hỏi:
1.1. Bị cáo Lê Thanh H trình bày: Bị cáo đồng ý với bản án sơ thẩm đã tuyên, các bị hại không có kháng cáo đối với bị cáo nên bị cáo không có ý kiến gì.
1.2. Bị cáo Nguyễn Thị Q trình bày: Bản án Tòa sơ thẩm tuyên là có căn cứ
và phù hợp, nên đề nghị HĐXX bác kháng cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.
2. Phần tranh luận:
2.1. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:
2.1.1. Về việc chấp hành pháp luật của HĐXX, thư ký và những người tham gia tố tụng: Hội đồng xét xử, thư ký và những người tham gia phiên tòa chấp hành đúng quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm. Kháng cáo của bị hại nằm trong hạn nên cần xem xét theo quy định pháp luật.
2.1.2. Về nội dung: Qua đối chiếu hồ sơ vụ án và lợi nhận tội của các bị cáo, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ chứng cứ và tuyên hình phạt 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” đối với bị cáo Nguyễn Thị Q là tương xứng với hành vi của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị hại kháng cáo nhưng không đưa ra được tình tiết mới chứng minh cho yêu cầu của mình. Do đó, đề nghị HĐXX không chấp nhận kháng cáo của các bị hại ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuy nhiên, đối với phần hình phạt của bị cáo Lê Thanh H, Tòa án cấp sơ thẩm sai sót về điều khoản truy tố với bị cáo H đối với tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” nhưng bị cáo không có kháng cáo và kháng nghị nên đề nghị HĐXX kiến nghị với cơ quan có thẩm quyền để xem xét lại phần hình phạt đối với tội danh “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” của bị cáo H.
2.2. Các bị cáo không có tranh luận gì và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.
3. Phần bị cáo nói lời sau cùng:
Bị cáo Nguyễn Thị Q: Bị cáo hoàn cảnh khó khăn, lang thang từ nhỏ nên sống phụ thuộc vào chồng bị cáo là chính, số tiền chiếm đoạt bị cáo không có nhận được. Bị cáo đã ăn năn hối cải, bị cáo đã khắc phục 01 phần cho bị hại là đã có nhiều cố gắng, kính mong HĐXX xem xét giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra, kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Người bị hại - ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1 thực hiện việc kháng cáo theo đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự nên đủ điều kiện để thụ
lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.
[1.2] Tại phiên tòa phúc thẩm, người bị hại - ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1 vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 351 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, phù hợp với lời khai của bị cáo và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định:
[2.1] Từ đầu tháng 11 năm 2017 đến ngày 09 tháng 7 năm 2018, bị cáo Lê Thanh H có hành vi gian dối là đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên Nguyễn Thị Q và thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất để chiếm đoạt số tiền 2.600.000.000 (hai tỷ sáu trăm triệu) đồng của các ông Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1.
Bị cáo Nguyễn Thị Q biết không có quyền sử dụng đất do mình đứng tên, không thực hiện việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho các ông Trần Thanh S và Nguyễn Thanh S1, không nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất từ người khác nhưng giao Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả cho ông Trần Thanh S để nhận 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được việc sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả để làm cho những người bị hại tin tưởng chuyển tiền rồi chiếm đoạt tiền những người bị hại là vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền sở hữu của người khác nhưng vì lợi ích cá nhân các bị cáo vẫn cố tình thực hiện.
Bị cáo H cũng nhận thức được hành vi thuê người làm giả tài liệu là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất rồi đưa cho các bị hại còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước.
Như vậy hành vi của các bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người bị hại được pháp luật bảo vệ. Hành vi của bị cáo H còn xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính Nhà nước, tạo dư luận xấu trong xã hội.
[2.2] Với hành vi nêu tại mục [2.1], Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Thanh H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”; bị cáo Nguyễn Thị Q phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định Điều 174 và Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Q của người bị hại là ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1
[3.1] Về hành vi của bị cáo: Sau khi điều tra lại, các bị cáo đều khẳng định bị cáo Q không biết về các hành vi gian dối của bị cáo H, cơ quan điều tra chỉ chứng
minh được bị cáo Q giúp sức cho bị cáo H chiếm đoạt 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng của các bị hại vì chứng minh được bị cáo Q biết có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bị cáo Q trong khi thực tế bị cáo Q không có quyền sử dụng đất, không giao dịch để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Mặt khác, nội dung Vi bằng số 186/2021/VB-TPL ngày 28 tháng 4 năm 2021 (bút lục từ số 389 đến số D) và Giấy trả tiền cọc (bút lục số 68) không có nội dung chứng minh sự đồng phạm của bị cáo Q trong việc bị cáo H lừa đảo chiếm đoạt của các bị hại 2.400.000.000 (hai tỷ bốn trăm triệu) đồng còn lại (các khoản bị cáo H nhận từ các bị hại trước ngày bị cáo H nói bị cáo Q nhận thêm 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng (ngày 28 tháng 6 năm 2018)) và không chứng minh được việc bị cáo Q sử dụng số tiền 2.400.000.000 (hai tỷ bốn trăm triệu) đồng mà bị cáo H chiếm đoạt của các bị hại.
[3.2] Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét bị cáo Q không có tình tiết tăng nặng và áp dụng đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; bị cáo đang nuôi 02 con (sinh đôi) còn nhỏ, có cha bị khuyết tật đặc biệt nặng (được Nhà nước trợ cấp vì bị khuyết tật), có mẹ phải chăm sóc cha (được Nhà nước trợ cấp vì phải chăm sóc người bị khuyết tật) là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), từ đó xử phạt bị cáo Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là phù hợp với quy định của pháp luật, tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi do bị cáo thực hiện.
[3.3] Quá trình tố tụng tại giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa, người bị hại - ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1 kháng cáo đề nghị tăng nặng hình phạt đối với bị cáo Q nhưng không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ tăng nặng hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không có cơ sở chấp nhận kháng cáo người bị hại ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, giữ nguyên phần hình phạt của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Thị Q.
[4] Đối với đề nghị xem xét lại điều khoản truy tố với bị cáo H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở, nên được HĐXX chấp nhận.
Kiến nghị Cơ quan có thẩm quyền xem xét lại điều, khoản áp dụng đối với tội danh “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” của bị cáo Lê Thanh H.
[5] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[6] Án phí hình sự phúc thẩm: Các bị hại - ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; khoản 1 Điều 341; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 55 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lê Thanh H 14 (mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 01 (một) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 15 (mười lăm) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/12/2019.
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 174; các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn Thị Q cho Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử giải thích về án treo cho bị cáo được hưởng án treo.
2. Tiếp tục giam giữ bị cáo Lê Thanh H để đảm bảo thi hành án.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày thời hạn hết kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị hại ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Toàn |
Bản án số 1046/2024/HS-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 1046/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người bị hại ông Trần Thanh S và ông Nguyễn Thanh S1. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 89/2024/HS-ST ngày 16/7/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương
