|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 1045/2024/HC-PT
Ngày: 18 - 9 - 2024
V/v: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đức Phương.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Tửu.
Bà Lê Thị Tuyết Trinh.
Thư ký phiên tòa: Bà Lã Thị Thu Hoài - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Vũ Thanh Sơn - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 438/2024/TLPT-HC ngày 13/5/2024 về việc: “Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất”.
Do Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2448/2024/QĐ-PT ngày 26 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Ông Trần Văn T, sinh năm 1957 (có mặt).
Địa chỉ: Số A đường Đ, tổ A, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Trần Văn T1 (có mặt).
Địa chỉ: Số G đường Đ, Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (Theo văn bản ủy quyền ngày 02/8/2023).
Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Triệu Đỗ Hồng P; chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ: Số C đường N, ấp A, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N và Ủy ban nhân dân huyện N: Ông Võ Phan Lê Nguyễn ; chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N và Ủy ban nhân dân huyện N:
Ông Đỗ Văn L; chức vụ: Phó Trưởng ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện N (có mặt).
Ông Từ Minh H; chức vụ: Trưởng phòng Nghiệp vụ 2, Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện N (có mặt).
Ông Nguyễn Văn H1; chức vụ: Phó Trưởng phòng Tài nguyên và môi trường huyện N (có mặt).
Bà Nguyễn Thị Ngọc T2; chức vụ: Phó Trưởng phòng Tư pháp huyện Nhà Bè có mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Huỳnh Thị H2, sinh năm 1958 (vắng mặt).
- Ông Trần Huỳnh Nhật L1, sinh năm 1987 (vắng mặt).
- Ông Trần Huỳnh Quốc T3, sinh năm 1987 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số A đường Đ, tổ A, ấp D, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người kháng cáo: Người khởi kiện, ông Trần Văn T.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình tố tụng, người khởi kiện, ông Trần Văn T và người đại diện hợp pháp trình bày:
Gia đình ông T sinh sống tại xã P, huyện N từ năm 1984. Năm 2001, thực hiện dự án đường dây 500KV tuyến Nhà B - P nên toàn bộ nhà đất của gia đình ông bị giải tỏa, di dời. Năm 2001, ông T mua của ông Huỳnh Văn Đ một phần đất và cải tạo kênh rạch được 292m². Năm 2002, ông T xây dựng lại nhà trên đất tại địa chỉ mới số A đường Đ,tTổ A, ấp D, xã P sinh sống từ đó đến nay.
Cùng ngày 30/7/2020, UBND huyện N ban hành Quyết định số 1108/QĐ-UBND (Quyết định số 1108/QĐ-UBND) thu hồi toàn bộ diện tích nhà đất 292m² nêu trên để thực hiện Dự án cầu bắc qua kênh C và ban hành Quyết định số 1156/QĐ-UBND (Quyết định số 1156/QĐ-UBND) phê duyệt Phương án bồi thường số 22/PTBT-HĐBT cho gia đình ông với số tiền 182.184.903 đồng. Ngày 21/01/2021, UBND huyện N ban hành Quyết định số 62/QĐ-UBND phê duyệt Phương án bồi thường bổ sung số 01/PTBT-HĐBT cho gia đình ông với số tiền 1.348.404.909 đồng. Như vậy, sau 02 lần bồi thường với tổng số tiền 1.530.589.812 đồng.
Ông T không đồng ý với các Quyết định và phương án bồi thường nêu trên, với các lý do: Diện tích đất thu hồi 292m² gia đình ông đã xây nhà, công trình từ năm 2002 có văn bản xác nhận của UBND xã P vào năm 2019 và 2020, nhưng khi thu hồi lại bồi thường theo giá đất nông nghiệp là không đúng, lẽ ra phải bồi thường cho ông theo giá đất ở và tái định cư cho ông; Việc bồi thường nhà công trình chỉ bồi thường 80% giá trị công trình mà không bồi thường 100% là không đúng; Trong các Quyết định phê duyệt bồi thường bổ sung không tính phần lãi do chậm chi trả tiền bồi thường hỗ trợ.
Do đó, ông T đã khiếu nại Quyết định số 62/QĐ-UBND. Ngày 10/3/2022, Chủ tịch UBND huyện N ban hành Công văn số 409/UBND-BBT trả lời không chấp nhận khiếu nại của Ông. Việc chủ tịch UBND huyện N ban hành Công văn trả lời khiếu nại là không đúng về hình thức, nội dung công văn không chấp nhận đơn khiếu nại của ông là không đúng.
Vì vậy, ông T khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định số 1108/QĐ-UBND, Quyết định số 1156/QĐ-UBND, Quyết định số 62/QĐ UBND của UBND huyện N; Hủy Công văn số 49/UBND- BBT của Chủ tịch UBND huyện N.
Ngày 09/8/2023, ông T có đơn xin rút yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định thu hồi đất số 1108/QĐ-UBND của UBND huyện N về thu hồi đất. Đối với Quyết định số 2334/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 127/PABT-HĐBT ngày 06/11/2023 cho ông Trần Văn T với số tiền 35.233.600 đồng, được ban hành sau khi ông T khởi kiện, ông T không khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định này, mà đề nghị Tòa xem xét giải quyết theo quy định pháp luật.
Người bị kiện trình bày:
Ủy ban nhân dân huyện N trình bày:
Cùng ngày 30/7/2020, UBND huyện N ban hành Quyết định số 1108/QĐ-UBND về thu hồi đất của ông Trần Văn T thuộc thửa 41, 42, 43 và đất rạch thuộc tờ bản đồ số 22 xã P (theo tài liệu BĐĐC) và tương ứng các thửa 141, 142, 630 và đất rạch thuộc tờ bản đồ số 3 xã P (theo tài liệu 02/CT-UB) với tổng diện tích 292m²; Quyết định số 1156/QĐ-UBND về phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 22/PABT-HĐBT. Ngày 21/01/2021, UBND huyện N ban hành Quyết định số 62/QĐ- UBND về phê duyệt bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 01/PABT-HĐBT, với tổng số tiền bồi thường là 1.530.589.812 đồng.
Do vợ chồng ông Trần Văn T có nghĩa vụ thanh toán cho ông Nguyễn Kim L2 một khoản tiền theo Bản án dân sự phúc thẩm số 495/2013/DS-PT ngày 10/4/2012 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2021, Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè yêu cầu chuyển toàn bộ số tiền trên đến Chi cục Thi hành án để thi hành theo Bản án nêu trên, nên UBND huyện N đã chuyển toàn bộ số tiền trên cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nhà Bè. Sau khi đã thanh toán cho ông Nguyễn Kim L2, số tiền còn lại Chi cục Thi hành án đã giao cho vợ chồng ông T nhận xong. Như vậy, số tiền bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất là 1.530.589.812 đồng UBND huyện N đã thanh toán cho vợ chồng ông Trần Văn T xong.
Trong quá trình làm việc tại Tòa án, UBND huyện N rà soát lại xét thấy phần diện tích 97,6m² thuộc thửa đất 41, 42 tờ bản đồ số 22 thuộc vị trí 1 nhưng Phương án 01/PABT-HĐBT ngày 07/01/2021 bồi thường theo vị trí 2 là không đúng, nên UBND huyện N ban hành Quyết định số 2334/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung số 127/PABT-HĐBT ngày 06/11/2023 cho ông Trần Văn T theo vị trí 1, với số tiền bổ sung với số tiền chênh lệch vị trí là 35.233.600 đồng. Như vậy, quyền lợi của ông T đã được bồi thường, hỗ trợ đầy đủ và ông T đã nhận tiền, bàn giao mặt bằng cho dự án xong năm 2022.
Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N trình bày:
Ngày 25/01/2022, UBND huyện N nhận được đơn kiến nghị phản ảnh của ông Trần Văn T (đơn đề ngày 17/01/2022) do Đoàn Đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố H chuyển đến. Qua xem xét đơn kiến nghị phản ánh, xét thấy đơn của ông Trần Văn T là đơn kiến nghị phản ánh chứ không phải đơn khiếu nại. Căn cứ vào Thông tư số 05/2021/TT-TTCP của Thủ tướng chính phủ quy định về quy trình xử lý đơn khiếu nại, tố cáo, đơn kiến nghị, phản ánh thì Chủ tịch UBND huyện N không ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại, mà ban hành Công văn trả lời kiến nghị là đúng quy định pháp luật về hình thức văn bản. Đồng thời, nội dung kiến nghị phản ánh của ông Trần Văn T là không có cơ sở, nên Công văn số 409/UBND-BBT ngày 10/3/2022 không chấp nhận nội dung kiến nghị phản ánh của ông Trần Văn T.
Đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày:
Bà Huỳnh Thị H2 trình bày: Tài sản nhà đất thu hồi là tài sản chung của vợ chồng bà và ông Trần Văn T, bà thống nhất theo yêu cầu khởi kiện của ông T.
Ông Trần Huỳnh Nhật L1, ông Trần Huỳnh Quốc T3 cùng trình bày: Các ông là con của ông T, bà H2. Tài sản nhà đất thu hồi, bồi thường là của cha mẹ tạo lập. Do đó, cha các ông khởi kiện thì các ông, bà không có ý kiến gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 3, khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116; điểm b khoản 1 Điều 143, Điều 144, khoản 1 Điều 158; khoản 2 Điều 173, điểm a khoản 2 Điều 193, khoản 1 Điều 348 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Điều 75, khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai 2013; điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 20, điểm h khoản 1 Điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; điểm a khoản 1 Điều 11, Điều 36, Điều 43 Quy định kèm theo Quyết định số 28/2018/QĐ - UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H; điểm c khoản 2 Điều 1 Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND ngày 18/3/2020 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018; Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 1108/QĐ-UBND ngày 30/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện N về thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cầu bắt qua kênh C xã P, huyện N, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về yêu cầu:
- Hủy Quyết định số 1156/QĐ-UBND ngày 30/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện N về phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 22/PABT - HĐBT ngày 30/7/2020.
- Hủy Quyết định số 62/QĐ- UBND ngày 21/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện N về phê duyệt bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 01/PABT-HĐBT ngày 07/01/2021.
- Hủy Công văn số 409/UBND-BBT ngày 10/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N về giải quyết kiến nghị.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 06/02/2024, người khởi kiện, ông Trần Văn T kháng cáo toàn bộ bản án hành chính sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của người khởi kiện giữ nguyên kháng cáo và trình bày:
Thứ nhất, ông T xây dựng nhà ở trên đất từ năm 2002 và sử dụng ổn định lâu dài, không bị xử phạt vi phạm hành chính có xác nhận của UBND xã P. Quá trình sử dụng đất, hàng năm ông T có nộp thuế phi nông nghiệp và được cấp hộ khẩu thường trú trên đất, không trái với quy hoạch tại thời điểm sử dụng đất. Do đó, ông T đủ điều kiện cấp giấy CNQSDĐ ở do đã sử dụng đất trước ngày 01/7/2004 và trước khi quy hoạch được duyệt nên phải được bồi thường theo đơn giá đất ở.
UBND huyện N và Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ vào Quyết định số 6981/QĐ-UB-QLĐT ngày 23/12/1998 của UBND Thành phố H phê duyệt quy hoạch chung của huyện N và Bản đồ sơ đồ định hướng phát triển không gian đến năm 2020 để cho rằng phần đất bị thu hồi là đất giao thông là không đúng. Mặt khác, tại Thông báo thu hồi đất ngày 14/12/2016 của UBND huyện N thể hiện: Loại đất mà ông T đang sử dụng là đất thổ, đất trồng cây lâu năm, nhưng khi bồi thường lại xác định là đất nông nghiệp là có sự mâu thuẫn.
Thứ hai, UBND huyện N không giải quyết tái định cư cho ông T là sai quy định: Nhà đất bị thu hồi là tài sản duy nhất mà ông T tạo lập. Ngoài nhà đất bị thu hồi thì ông T không còn nơi ở khác và cũng không còn bất kỳ nhà đất ở địa phương. Theo quy định tại khoản 2 Điều 79 Luật Đất đai năm 2013 và điểm a khoản 1 Điều 6 Nghị định 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì việc ông T không được giải quyết tái định cư là không đúng quy định.
Thứ ba, UBND huyện N không bồi thường tài sản (nhà ở) cho gia đình ông T bằng 100% đơn giá xây dựng mà chỉ hỗ trợ đối với nhà ở bằng 80% x 50% đơn giá xây dựng là sai. Năm 2002, ông T xây nhà ở kiên cố, diện tích nhà là 183m², diện tích mái che là 67,1m² và diện tích sân là 11,6m². Điều này đã được UBND xã P xác nhận tại Bảng xác minh nguồn gốc nhà, công trình xây dựng trên đất số 37/UBND-KCK ngày 29/11/2019 và Bảng xác minh nguốc gốc nhà, công trình xây dựng trên đất số 55/UBND-KCK ngày 29/07/2020. Thời điểm năm 2002, khu vực huyện N chưa có quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch chi tiết xây dựng đô thị và quy hoạch điểm dân cư nông thôn. Đối chiếu theo quy định tại Điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 và Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của UBND Thành phố H, được sửa đổi bổ sung tại khoản 2, Điều 1 Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND ngày 18/03/2020 thì ông T phải được tính bồi thường bằng 100% đơn giá xây dựng.
Thứ tư, UBND huyện N chậm chi trả bồi thường nhưng không giải quyết tiền chậm chi trả bồi thường là không đúng. Theo điểm a, khoản 3 Điều 69 Luật Đất đai năm 2013 thì việc ra quyết định thu hồi, phê duyệt và tổ chức thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư được thực hiện trong cùng một ngày. Ngày 30/7/2020, UBND huyện N ban hành Quyết định thu hồi đất và Quyết định phê duyệt Phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư, theo đó, ông T chỉ được nhận bồi thường, hỗ trợ là 182.184.903 đồng. Đến ngày 21/01/2021, UBND huyện N mới ban hành Quyết định số 62/QĐ-UBND để bồi thường, hỗ trợ bổ sung 1.348.404.909 đồng. Như vậy, UBND huyện N đã thực hiện sai quy định nêu trên nên ông T phải được nhận khoản tiền chậm chi trả trong thời gian từ ngày 30/7/2020 đến ngày 21/01/2021.
Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của ông T, sửa bản án sơ thẩm nêu trên.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND và Chủ tịch UBND huyện N trình bày:
Việc bồi thường đất nông nghiệp được căn cứ vào quá trình sử dụng, nguồn gốc đất của ông T. Trước đó, sau khi bị giải tỏa thì ông T lại mua đất nông nghiệp với giá trị là 42 triệu đồng nên ông T không được tái định cư. UBND huyện N đã mời làm việc nhiều lần nhưng ông T không giao giấy CNQSDĐ nên không thực hiện được việc chi trả. Do công trình xây dựng trên đất nông nghiệp nên ông T chỉ được hỗ trợ 50%. Ngoài ra, UBND Thành phố H đã bổ sung thêm chính sách hỗ trợ cho ông T mua thuê căn hộ.
Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến:
Về tố tụng: Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ và chấp hành đúng các quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015. Đơn kháng cáo của ông Trần Văn T làm trong hạn luật định, đúng hình thức.
Về nội dung:
Về nguồn gốc đất và tài sản đất: Căn cứ Bảng xác minh nguồn gốc sử dụng nhà, công trình xây dựng trên đất số 37/UBND-KCK ngày 29/11/2019 và Bảng xác minh nguồn gốc sử dụng nhà, công trình xây dựng trên đất số 55/UBND-KCK ngày 29/7/2020 của UBND xã P, được ông T thống nhất về diện tích, số lượng hạng mục công trình trên đất, thể hiện: Tổng diện tích đất ông T bị thu hồi là 292m² thuộc các thửa 630 (diện tích 63m² đã được cấp giấy CNQSDĐ, loại đất LN), thửa 141 (diện tích 36,8m², loại đất L) và thửa 142 (diện tích 32,1m², loại đất LN) chưa cấp giấy CNQSDĐ. Diện tích đất thu hồi tại thửa 141 và thửa 142 theo tài liệu bản đồ địa chính số 22 có nguồn gốc mua của ông Huỳnh Văn Đ năm 2001 (nhưng ông Đỗ Văn B trực tiếp hợp thức hóa hợp đồng chuyển nhượng ngày 28/9/2004). Trên đất, ông T có xây dựng các công trình nhà, mái che, sân xi măng, tường rào (trong đó diện tích 281,9m² xây dựng vào khoảng năm 2002; phần mái che diện tích 10,1m² làm năm 2018), khi xây dựng ông T không xin phép, nhưng không bị xử phạt, và sử dụng ổn định liên tục không có tranh chấp.
Căn cứ theo quyết định số 6981/QĐ-UB ngày 23/12/1998 của UBND Thành phố H, kèm theo bản đồ định hướng phát triển quy hoạch trên địa bàn huyện N đến năm 2020, thì phần nhà, đất của ông T bị thu hồi để thực hiện dự án xây dựng cầu B nằm trong quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất là đất giao thông từ năm 1998. Đồng thời, vào thời điểm ông T xin cấp giấy CNQSDĐ (kèm bản vẽ xin cấp giấy lập ngày 29/10/2003), thì mục đích xin sử dụng là “LN”, thể hiện trên đất không có nhà và một phần đất lấn chiếm rạch.
Như vậy, phần đất bị thu hồi ông T có cải tạo sử dụng mục đích xây dựng nhà ở năm 2002, nhưng vào thời điểm xây dựng công trình trên đất đã vi phạm quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xây dựng trên đất nông nghiệp và không đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất và cấp giấy CNQSDĐ theo khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai năm 2013. Nên, không đủ điều kiện bồi thường, hỗ trợ về đất ở theo điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 20 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, điểm a khoản 1 Điều 11 Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của UBND Thành phố H.
Đối với yêu cầu bố trí tái định cư: Phần nhà đất của ông T bị thu hồi toàn bộ, không còn nhà ở nào khác trên địa bàn xã P. Vì vậy, căn cứ khoản 5 Điều 7 Nghị định 47/2014/NĐ-CP thì hộ ông T phải được bố trí tái định cư dưới hình thức được Nhà nước giao đất ở mới có thu tiền sử dụng đất hoặc bán nhà ở tái định cư. Tại phiên tòa sơ thẩm, UBND huyện N trình bày đã có Văn bản trình UBND Thành phố và đã được phê duyệt trong đó có hộ ông T và sẽ mời ông T lên để thực hiện các thủ tục tiếp theo, vì vậy đối với việc tái định cư UBND huyện N làm việc với ông T để giải quyết.
Đối với yêu cầu tiền lãi do chậm chi trả bồi thường, hỗ trợ: Ngày 30/7/2020, UBND huyện N ban hành Quyết định số 1108/QĐ-UBND về việc thu hồi các thửa đất và Quyết định số 1156/QĐ-UBND về phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 22/PABT-HĐBT với số tiền 182.184.903 đồng, trong Phương án số 22/PABT-HĐBT có 243,2m² đất của các thửa 630, 141, 142 chờ phải xác minh tính hợp pháp, một số hạng mục công trình như nhà, mái che, sân xi măng, gác lửng, hàng rào cũng phải chờ xác minh sẽ bồi thường bổ sung. Như vậy, việc ban hành Quyết định số 62/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường bổ sung là đúng, trường hợp này không thuộc trường hợp áp dụng khoản 1 Điều 93 Luật Đất đai 2013 để tính tiền lãi chậm chi trả tiền bồi thường. Đồng thời, UBND huyện N đã nhiều lần mời ông T làm việc, lập biên bản yêu cầu nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng nhưng ông T không chấp hành. Do đó, năm 2021 Ban bồi thường giải phóng mặt bằng huyện đã chuyển tiền bồi thường vào tài khoản tại Kho bạc huyện N, tiền giữ ở Kho bạc Nhà nước không phát sinh tiền lãi, nên yêu cầu khởi kiện này là không có căn cứ để chấp nhận.
Do đó, các Quyết định số 1156/QĐ-UBND, Quyết định số 62/QĐ-UBND, Công văn số 49/UBND-BBT được ban hành có căn cứ, đúng quy định pháp luật. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện là đúng. Ông T kháng cáo nhưng không có căn cứ chứng minh nên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận kháng cáo của ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về thủ tục tố tụng:
[1] Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết vụ án là đúng quy định tại Điều 30, Điều 32; điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính. Ông Trần Văn T kháng cáo đúng quy định nên vụ án được xét xử theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Tòa án cấp sơ thẩm xác định đối tượng khởi kiện vụ án hành chính và giải quyết, đồng thời xem xét các quyết định hành chính có liên quan là đúng quy định của Luật Tố tụng hành chính năm 2015.
[3] Quá trình tố tụng, người khởi kiện đã rút yêu cầu hủy Quyết định thu hồi đất số 1108/QĐ-UBND ngày 30/7/2020 của UBND huyện N. Các đương sự khác không có ý kiến gì khác. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính 2015 đình chỉ đối với yêu cầu khởi kiện này là có căn cứ.
Về nội dung:
[4] Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành quyết định hành chính bị khiếu kiện: Tòa án cấp sơ thẩm xác định các Quyết định bị khiếu kiện ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền là có căn cứ.
[5] Căn cứ Bảng xác minh nguồn gốc sử dụng nhà, công trình xây dựng trên đất số 37/UBND-KCK ngày 29/11/2019 và Bảng xác minh nguồn gốc sử dụng nhà, công trình xây dựng trên đất số 55/UBND-KCK ngày 29/7/2020 của UBND xã P về đất của ông T, được ông T thống nhất về diện tích, số lượng hạng mục công trình trên đất, thể hiện: Tổng diện tích đất ông T bị thu hồi là 292m² thuộc các thửa 41 (diện tích 125,9m²), thửa 42 (diện tích 5,5m²) theo tài liệu bản đồ địa chính số 22 có nguồn gốc mua của ông Huỳnh Văn Đ năm 2001 (nhưng ông Đỗ Văn B trực tiếp hợp thức hóa hợp đồng chuyển nhượng ngày 28/9/2004); còn 160,6m² theo tài liệu bản đồ 02/CT-UB là đất rạch nhánh len lỏi trong khu dân cư không thuộc danh mục quản lý của Cơ quan Nhà nước. Trên đất, ông T có xây dựng nhà, mái che, sân xi măng, tường rào (trong đó diện tích 281,9m² xây dựng vào khoảng năm 2002; phần mái che diện tích 10,1m² làm năm 2018), khi xây dựng ông T không xin phép, nhưng không bị xử phạt và sử dụng ổn định liên tục không có tranh chấp. Năm 2020, các thửa đất này bị thu hồi, đến năm 2022 ông T tự nguyện tháo dỡ bàn giao mặt bằng sau khi Chủ tịch UBND huyện N ban hành Quyết định cưỡng chế, nhưng chưa tiến hành cưỡng chế.
[6] Ngày 23/12/1998, UBND Thành phố H đã ban hành Quyết định số 6981/QĐ-UB-QLĐT về phê duyệt quy hoạch định hướng phát triển không gian huyện N đến năm 2020 (có bản vẽ năm 1997 được phê duyệt năm 1998 kèm theo) thì các thửa đất của ông T bị thu hồi được quy hoạch là đất giao thông, nên theo quy định tại khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai 2013, Điều 31 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì trường hợp đất của ông T là đất nông nghiệp đã có quy hoạch làm đường giao thông từ năm 1998.
[7] Đến năm 2002, ông T tự ý chuyển mục đích sử dụng vào mục đích đất xây dựng công trình là vi phạm quy hoạch theo Quyết định số 6981/QĐ-UB-QLĐT nêu trên nên không đủ điều kiện để áp dụng điểm a khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ, điểm a khoản 1 Điều 11 Quy định kèm theo Quyết định số 20/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của UBND Thành phố H để bồi thường theo giá đất ở, bồi thường bằng 100% đơn giá xây dựng khi thu hồi đất và cũng không thuộc trường hợp bắt buộc phải bố trí tái định cư theo quy định tại Điều 75 Luật Đất đai 2013 và Điều 36 Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của UBND Thành phố H và mục II phần VI của Chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư dự án cầu bắc qua kênh Cây Khô số 01/CSBT-HĐBT ngày 27/7/2020.
[8] Về yêu cầu trả lãi chậm chi trả tiền bồi thường hỗ trợ, thấy rằng:
[8.1] Cùng ngày 30/7/2020, UBND huyện N ban hành Quyết định số 1108/QĐ-UBND và Quyết định số 1156/QĐ- UBND có nội dung thu hồi các thửa đất của ông T và phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 22/PABT-HĐBT. Trong Phương án số 22/PABT-HĐBT, có 243,2m² đất của thuộc các thửa 630, 141, 142 chờ phải xác minh tính hợp pháp, một số hạng mục công trình như nhà, mái che, sân xi măng, gác lửng, hàng rào cũng phải chờ xác minh sẽ bồi thường bổ sung. Đến ngày 21/01/2021, UBND huyện N mới ban hành Quyết định số 62/QĐ-UBND về phê duyệt Phương án bổ sung số 01/PABT-ĐBT, với số tiền 1.348.404.909 đồng và ngày 06/11/2023, UBND huyện N ban hành Quyết định số 2334/QĐ-UBND phê duyệt Phương án số 127/PABT-HĐBT về bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho ông Trần Văn T với số tiền 35.233.600 đồng.
[8.2] Như vậy, việc ban hành Quyết định số 62/QĐ-UBND về phê duyệt phương án bồi thường bổ sung là đúng pháp luật, không phải thuộc trường hợp áp dụng khoản 1 Điều 93 Luật Đất đai năm 2013 để tính tiền lãi chậm chi trả tiền bồi thường. Ngoài ra, UBND huyện N đã nhiều lần mời ông T làm việc để nhận tiền bồi thường, bàn giao mặt bằng nhưng ông T đều có ý kiến không chấp hành với lý do quyền lợi khi thu hồi đất chưa được giải quyết thỏa đáng. Vì vậy, năm 2021, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng huyện N đã chuyển tiền bồi thường vào tài khoản số 3949.1086376.00000 tại Kho bạc huyện N.
[8.3] Mặt dù, việc chuyển tiền vào kho bạc nhà nước chậm nhưng không xâm phạm đến quyền lợi của ông T như bản án đã xác định là có căn cứ.
[9] Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông T là có căn cứ. Ông T kháng cáo nhưng cũng không cung cấp chứng cứ mới. Vì vậy, Hội đồng xét xử thống nhất ý kiến của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo ông T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[10] Ông Trần Văn T là người cao tuổi, lẽ ra được miễn án phí sơ thẩm nhưng do không có đơn xin miễn án phí theo quy định nên Tòa án cấp sơ thẩm buộc ông T phải chịu án phí sơ thẩm là đúng. Giai đoạn phúc thẩm, ông T có nộp đơn xin miễn án phí và được Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận nên ông T được miễn án phí phúc thẩm.
[11] Các phần khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính; Điều 75, khoản 2 Điều 101 Luật Đất đai 2013; Điểm a khoản 1 và điểm a khoản 2 Điều 20, điểm h khoản 1 Điều 31 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đất đai 2013; Điểm a khoản 1 Điều 11, Điều 36, Điều 43 Quy định kèm theo Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H; Điểm c khoản 2 Điều 1 Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND ngày 18/3/2020 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh theo Quyết định số 28/2018/QĐ-UBND ngày 09/8/2018 của Ủy ban nhân dân Thành phố H; Điều 32 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Không chấp nhận kháng cáo của ông Trần Văn T.
- Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 27/2024/HC-ST ngày 30 tháng 01 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu khởi kiện hủy Quyết định số 1108/QĐ-UBND ngày 30/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện N về thu hồi đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng cầu bắc qua kênh C, xã P, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Bác yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T về việc:
- 4.1. Yêu cầu hủy Quyết định số 1156/QĐ-UBND ngày 30/7/2020 của Ủy ban nhân dân huyện N về phê duyệt Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 22/PABT-HĐBT ngày 30/7/2020.
- 4.2. Yêu cầu hủy Quyết định số 62/QĐ-UBND ngày 21/01/2021 của Ủy ban nhân dân huyện N về phê duyệt bổ sung Phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư số 01/PABT-HĐBT ngày 07/01/2021.
- 4.3. Yêu cầu hủy Công văn số 409/UBND-BBT ngày 10/3/2022 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện N về việc phúc đáp kiến nghị của công dân.
- Án phí:
- 5.1. Án phí sơ thẩm: Ông Trần Văn T phải chịu 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004405 ngày 18/4/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh, ông T đã nộp đủ.
- 5.2. Án phí phúc thẩm: Ông Trần Văn T được miễn.
- Về hiệu lực của bản án: Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Phan Đức Phương |
Bản án số 1045/2024/HC-PT ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Số bản án: 1045/2024/HC-PT
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện Quyết định hành chính trong lĩnh vực bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
