Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CỦ CHI

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1040/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 19/8/2024

V/v: “Tranh chấp về ly hôn”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hương.

Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Vân;
  2. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Không.

Trong ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 500/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 về việc: “Tranh chấp về ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 372/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số: 416/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Võ Thị Mộng T, sinh năm 1987, có mặt.

Địa chỉ thường trú: Số D Tỉnh lộ 7, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ: Đường I, Tổ A, ấp Đ, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Ông Hồ Văn K, sinh năm 1987, vắng mặt.

Địa chỉ thường trú: Số D Tỉnh lộ 7, ấp T, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn xin ly hôn ngày 12 tháng 4 năm 2024 và tại phiên tòa, nguyên đơn bà Võ Thị Mộng T trình bày sự việc như sau:

Bà (Võ Thị Mộng T) và ông Văn K sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 99, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/11/2010.

Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2019 chồng bà đi lao động tại nước ngoài. Cuối năm 2023 chồng bà về nước, sau đó hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, cả hai đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại, vợ chồng bà sống ly thân từ đầu tháng 12/2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn ý nghĩa, mục đích hôn nhân không đạt nên bà T yêu cầu ly hôn dứt khoát với ông K.

Về con chung: Bà T và ông K có 02 con chung tên là Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 05/5/2015 và Hồ Hữu D, sinh ngày 12/11/2011. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 05/5/2015. Bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi trẻ Như Ý. Bà T đồng ý giao con chung tên Hồ Hữu D, sinh ngày 12/11/2011 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi con trẻ D.

Về tài sản chung: Bà T xác định không có.

Về nợ chung: Bà T xác định không có.

Trong suốt quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị đơn Hồ Văn K không có mặt nên không có lời khai của ông K.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Đây là vụ kiện: “Tranh chấp về ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn trong vụ kiện ông Hồ Văn K hiện có địa chỉ tại huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nên căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án số 500/TB-TA ngày 03/5/2024; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải kèm giấy triệu tập; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 372/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03/7/2024 kèm giấy triệu tập; Quyết định hoãn phiên tòa số 416/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/7/2024 kèm giấy triệu tập nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn ông Hồ Văn K vắng mặt mà không rõ lý do. Căn cứ khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt ông K.

[2] Về nội dung:

Xét yêu cầu của nguyên đơn bà Võ Thị Mộng T về việc yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Hồ Văn K, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về quan hệ hôn nhân:

Bà Võ Thị Mộng T và ông Hồ Văn K sau thời gian tìm hiểu đã tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Giấy chứng nhận kết hôn số 99, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/11/2010, đây là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật thừa nhận.

Tại đơn xin ly hôn cũng như tại phiên tòa, bà T khai rằng sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc. Đến năm 2019 chồng bà đi lao động tại nước ngoài. Cuối năm 2023 chồng bà về nước, sau đó hai vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không hợp nhau, thường xuyên cãi nhau, bất đồng quan điểm, cả hai đã nhiều lần cố gắng hòa giải nhưng không tìm được tiếng nói chung. Hiện tại, vợ chồng bà sống ly thân từ đầu tháng 12/2023 cho đến nay. Xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không còn ý nghĩa, mục đích hôn nhân không đạt nên bà T yêu cầu ly hôn dứt khoát với ông K.

Xét thấy, vợ chồng phải có nghĩa vụ sống chung với nhau, thương yêu, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, tạo dựng hạnh phúc gia đình, nhưng cuộc sống vợ chồng giữa bà T và ông K có nhiều mâu thuẫn. Tại phiên tòa, bà T vẫn cương quyết xin ly hôn với ông K vì tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn, cuộc sống chung không thể kéo dài; mặt khác, tại phiên tòa hôm nay, ông K cũng không có mặt mà không rõ lý do, điều này thể hiện ông K không có thiện chí trong việc hàn gắn tình cảm vợ chồng với bà T.

Từ phân tích trên, có đủ cơ sở xác định hôn nhân giữa bà T và ông K không còn hạnh phúc, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, chấp nhận yêu cầu bà T là có cơ sở.

- Về con chung:

Bà T và ông K có 02 con chung tên là Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 05/5/2015 và Hồ Hữu D, sinh ngày 12/11/2011. Khi ly hôn, bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 05/5/2015. Bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi trẻ Như Ý. Bà T đồng ý giao con chung tên Hồ Hữu D, sinh ngày 12/11/2011 cho ông K là người trực tiếp nuôi dưỡng, bà T không cấp dưỡng nuôi trẻ D.

Xét thấy, do trẻ Như Ý có nguyện vọng được sống với mẹ nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ Như Ý cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Do bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà T.

Xét thấy, do trẻ D có nguyện vọng được sống với cha nên Hội đồng xét xử quyết định giao trẻ D cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng là hoàn toàn phù hợp.

Do ông K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa nên không có lời khai của ông K về vấn đề cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xét.

Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.

Người không trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung được quyền thăm con, không ai được cản trở.

- Về tài sản chung:

Bà T khai về tài sản chung không có nên Hội đồng xét xử không xét.

- Về nghĩa vụ dân sự chung:

Bà T khai không có nợ chung nên Hội đồng xét xử không xét.

[3] Về án phí:

Bà T phải nộp tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/10/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 217, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 51, Khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, khoản 1 Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình;

- Căn cứ Điều 6, 7, 26, 30, 31, 32 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của bà Võ Thị Mộng T.
    • - Về quan hệ hôn nhân:
    • Bà Võ Thị Mộng T được quyền ly hôn với ông Hồ Văn K.
    • Giấy chứng nhận kết hôn số 99, quyển số 01/2010 do Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà T và ông K ngày 12/11/2010, không còn giá trị pháp lý.
    • - Về con chung:
    • Giao con chung tên là Hồ Thị Như Ý, sinh ngày 05/5/2015 cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng; ghi nhận sự tự nguyện của bà T về việc không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi trẻ Như Ý.
    • Giao con chung tên là Hồ Hữu D, sinh ngày 12/11/2011 cho ông K trực tiếp nuôi dưỡng; bà T không có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi trẻ D.
    • Cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại Khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.
    • Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
    • Người không trực tiếp nuôi con chung được quyền thăm con, không ai được cản trở.
    • - Về tài sản chung:
    • Bà T khai về tài sản chung không có nên không xét.
    • - Về nghĩa vụ dân sự chung:
    • Bà T khai không có nghĩa vụ dân sự chung nên không xét.
  2. Về án phí:

    Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm buộc bà T phải nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0015153 ngày 02/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Củ Chi, bà T đã nộp đủ tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên tòa (ông Hồ Văn K) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Củ Chi;
  • - Chi cục THADS huyện Củ Chi;
  • - UBND xã Trung Lập Hạ, huyện Củ Chi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Vũ Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1040/2024/HNGĐ-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về ly hôn

  • Số bản án: 1040/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị đơn vắng mặt: chấp nhận toàn bộ yêu cầu của Nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger