Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH XUYÊN

TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày 31 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tấn Tám

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Bích Thuần và ông Nguyễn Quang Thái.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Vũ Lan Hương - Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 94/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Sùng A N, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1995; tại Yên Bái, nơi cư trú: Thôn N, xã T, thị xã N, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 5/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Sùng A T và bà Vàng Thị D; có vợ là Thào Thị S, (Đã ly hôn) và có 01 con sinh năm 2013.

Tiền án: Có 01 tiền án:

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 10/2022/HS - ST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt Sùng A N 01 năm 06 tháng tù tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng. Bị cáo đã chấp hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 02 tháng 8 năm 2022; ngày 20 tháng 4 năm 2023, bị cáo chấp hành xong án phạt tù, (Chưa được xóa án tích).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21 tháng 3 năm 2024, đến nay hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Vĩnh Phúc, “có mặt”.

Người bào chữa cho bị cáo, ông Nguyễn Văn Thảo, Trợ Giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Vĩnh Phúc, “vắng mặt”.

1

Người tham gia tố tụng khác

Người làm chứng:

  • -Ông Lê Anh Đ, sinh ngày 10 tháng 9 năm 1974, “vắng mặt”.
  • -Bà Lê Thị H, sinh ngày 11 tháng 4 năm 1958, “vắng mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sùng A N là người nghiện ma túy từ năm 2019 đến nay, loại ma túy hay sử dụng là heroin, hình thức sử dụng là hít. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 3 năm 2024, N đi lang thang tại xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đi bộ tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến thôn Tiền Phong, xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì N gặp 01 nam giới khoảng 30 tuổi (Bị cáo không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). N hỏi mua được của nam giới này 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng, (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, N cầm trong lòng tay phải rồi đi tìm địa điểm để sử dụng; khi đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc thôn Lý Hải, xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì Công an huyện Bình Xuyên tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang N đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ ở lòng bàn tay phải của N 01 gói giấy màu trắng kích thước 01cm x 1,5cm bên trong chứa chất cục bột màu nâu, kí hiệu là A; thu mẫu nước tiểu của N ký hiệu A1, để phục vụ việc giám định.

Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Xuyên ra Quyết định trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc giám định các mẫu vật thu được khi bắt giữ bị cáo.

Tại Kết luận giám định 773/KL- KTHS ngày 26 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Chất cục bột màu nâu của mẫu ký hiệu A gửi giám định có khối lượng 0,1514g, (Không phảy một năm một bốn gam, không kể bao bì) là ma túy; loại Heroine."

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan trưng cầu gồm: A = 0,0983 gam mẫu cùng bao gói.

Tại Kết luận giám định 835/KL - KTHS ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“Tìm thấy chất ma túy Morphine trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi là mẫu nước tiểu thu của Sùng A N...”.

Hoàn trả trực tiếp đối tượng giám định còn lại sau giám định cho Cơ quan trưng cầu gồm 0,0ml gam mẫu cùng toàn bộ bao gói.

2

Quá trình điều tra Sùng A N đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 92/CT – VKSBX, ngày 28 tháng 6 năm 2024; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo Sùng A N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như Cáo trạng đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c, khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự; đề nghị xử phạt Sùng A N từ 01 năm 09 tháng, đến 02 năm 03 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21 tháng 3 năm 2024; miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo và đề nghị xử lý vật chứng của vụ án, theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của những người tham gia tố tụng:

Người bào chữa cho bị cáo là ông Nguyễn Văn Thảo vắng mặt tại phiên tòa, xong trong bản luận cứ bào chữa cho bị cáo gửi đến Tòa án, ông Thảo trình bày: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm cho bị cáo vì bị cáo là người dân tộc thiểu số; cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, trình độ văn hóa thấp, nhận thức pháp luật hạn chế, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ ở mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo

Người làm chứng là ông Lê Anh Đ, bà Lê Thị H vắng mặt tại phiên tòa xong trong giai đoạn điều tra đã có lời khai, phù hợp với lời khai của bị cáo cùng các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Xuyên của Điều tra viên và của Viện kiểm sát nhân dân dân huyện Bình Xuyên, của Kiểm sát viên, của người bào chữa cho bị cáo, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử được thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan người tiến hành tố tụng. Do đó các quyết định, hành vi của cơ quan, người tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

[2]. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo Sùng A N đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, như nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát

3

nhân dân huyện Bình Xuyên. Bị cáo khai nhận: Là người nghiện ma túy từ năm 2019, loại ma túy hay sử dụng là heroin. Khoảng 13 giờ 00 phút, ngày 21 tháng 3 năm 2024, bị cáo đi lang thang tại xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên thì có nhu cầu sử dụng ma túy nên đi tìm mua ma túy để sử dụng. Khi đến thôn Tiền Phong, xã Tân Phong, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì gặp 01 nam giới khoảng 30 tuổi; bị cáo không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể. Bị cáo hỏi mua được của nam giới này 01 gói ma túy heroin với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, bị cáo cầm trong lòng tay rồi tìm địa điểm để sử dụng. Khi bị cáo đang đi bộ trên đường dân sinh thuộc thôn Lý Hải, xã Phú Xuân, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc thì Công an huyện Bình Xuyên tiến hành kiểm tra, phát hiện, bắt quả tang bị cáo đang tàng trữ trái phép chất ma túy, thu giữ ở lòng bàn tay phải của bị cáo 01 gói giấy màu trắng bên trong chứa chất cục bột màu nâu, qua giám định thì khối lượng ma túy thu giữ của bị cáo là 0,1514gam (Không phảy một năm một bốn gam) là loại Heroine.

[3]. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ như Biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; Kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Vĩnh Phúc và vật chứng vụ án thu giữ được. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận hành vi cất, đem theo trên người ma túy có khối lượng là 0,1514gam loại Heroine của Sùng A N đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Nội dung điều luật quy định:

1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

....c) Heroine...có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam"

[4]. Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện tính coi thường pháp luật, gây mất trật tự trị an tại địa phương, xâm phạm đến tính chất độc quyền của Nhà nước về quản lý các chất gây nghiện; ma túy là nguyên nhân phát sinh của nhiều loại tội phạm khác, trong giai đoạn hiện nay tội phạm về ma túy đang có chiều hướng gia tăng, để nhằm mục đích tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật mới có tác dụng đấu tranh phòng chống tội phạm và răn đe phòng ngừa chung.

[5]. Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo là người dân tộc thiểu số, cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn như người bào chữa cho bị cáo trình bày, là các

4

căn cứ để Hội đồng xét xử cân nhắc khi quyết định hình phạt cho bị cáo; tuy nhiên bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự là “tái phạm” vì bị cáo phạm tội, khi chưa được xóa án tích của bản án Hình sự sơ thẩm số 10/2022/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện Văn Lâm, tỉnh Hưng Yên xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” điều đó chứng tỏ bị cáo không chịu ăn năn, hối cải, không chịu tử bỏ ma túy mà tiếp tục phạm tội; do đó cũng cần thiết phải bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại giam như mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị tại phiên tòa mới có tác dụng cải tạo, giúp bị cáo trở thành người công dân biết chấp hành pháp luật và có ích cho gia đình và xã hội.

[6]. Về hình phạt bổ sung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác minh, làm rõ bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản, thu nhập gì nên cần miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[7]. Đối với đối tượng nam giới đã bán cho N gói ma túy, vào ngày 21 tháng 3 năm 2024, sau đó bị cáo đem đi sử dụng và bị bắt quả tang, bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ của người này. Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã áp dụng các biện pháp cần thiết để xem xét, xử lý đối tượng này, xong không xác định được danh tính của đối tượng, do đó Hội đồng xét xử không xem xét, xử lý trong vụ án này.

[8]. Xử lý vật chứng:

Đối với 0,0983g mẫu và toàn bộ bao gói và 0,00ml mẫu nước tiểu sau giám định do Cơ quan giám định hoàn lại là vật Nhà nước cấm lưu hành; không còn giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu để tiêu hủy.

[9]. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Sùng A N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự

Xử phạt bị cáo Sùng A N 01 (Một) năm 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21 tháng 3 năm 2024.

Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng Hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,0983g mẫu và toàn bộ bao gói; 0,00ml mẫu nước tiểu sau giám định do Cơ quan giám định hoàn lại (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 03 tháng 7 năm 2024 giữa Công an huyện Bình Xuyên và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Xuyên).

5

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Sùng A N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có mặt, có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu xét xử phúc thẩm./.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Bình Xuyên;
  • - CA huyện Bình Xuyên;
  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Trại Tạm giam Công an tỉnh Vĩnh Phúc;
  • - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Xuyên;
  • - Lưu HSVA + VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Nguyễn Tấn Tám

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 31/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH XUYÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án Sùng A N phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger