Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30 - 10 - 2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Viết Hải

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thiện và ông Nguyễn Xuân Thạch.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sáng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và Gia đình thụ lý số 05/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/01/2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 272 /2024/QĐ-ST ngày 13 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Hà Văn T, sinh năm 1986; nơi ĐKNKTT: Thôn K, xã V, huyện B, tỉnh Thanh Hóa.

Hiện đang cư trú tại: N. 13-3,Dating L., Lunzijiao R., Xihu T1, C, T2 (R.O.C.) Đài Loan, có ý kiến đề nghị xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Phạm Thu H, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn H, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 13/11/2023, bản tự khai ngày 16/01/2024, nguyên đơn anh Hà Văn T trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn T và chị Phạm Thu H kết hôn với nhau trên cở sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/09/2011 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Sau khi kết hôn, trong quá trình chung sống anh T và chị Phạm Thu H có xảy ra nhiều mâu thuẫn trong kinh tế, phong tục tập quán và lối sống của hai vợ chồng khác nhau. Dẫn đến hai vợ chồng không có tiếng nói chung trong hôn nhân. Dù đã nhiều lần cố gắng nói chuyện hòa giải để giải quyết những bất đồng nhưng đều không có kết quả mà chỉ dẫn đến cuộc sống hôn nhân của hai vợ chồng ngày càng căng thẳng hơn. Đến năm 2017, mâu thuẫn vợ chồng trở nên đỉnh điểm trầm trọng và gay gắt, không thể giải quyết được, vợ chồng ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Do vậy, vợ chồng anh chị quyết định ly hôn. Nay anh Hà Văn T nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống hôn nhân không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không thể đạt được. Do vậy, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình giải quyết cho anh T được ly hôn với chị Phạm Thu H theo đúng quy định pháp luật. Anh Hà Văn T trình bày không có nguyện vọng hòa giải với chị Phạm Thu H. Kính đề nghị Tòa án không tiến hành việc hòa giải để giải quyết vụ việc ly hôn giữa vợ chồng anh. Vì điều kiện công việc ở xa, anh T không thể sắp xếp về Việt Nam để trực tiếp tham gia phiên tòa giải quyết theo thời gian đã được ấn định. Anh T xin được vắng mặt tại các phiên tòa, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình giải quyết xét xử vắng mặt. Đề nghị Tòa án sớm đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật không cần kéo dài thời gian theo thông báo thụ lý vụ án.

Về quan hệ con chung: Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 01 (một) con chung, cháu Hà Thảo U, sinh ngày 25/03/2012. Hiện nay cháu Hà Thảo U đang sống chung cùng mẹ. Sau khi ly hôn, vợ chồng thống nhất giao cháu cho mẹ là chị Phạm Thu H trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng. Việc cấp dưỡng và nuôi con sẽ do hai vợ chồng tự thỏa thuận và không yêu cầu tòa án giải quyết.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Vợ chồng không có tài sản chung và nợ chung. Do đó, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai ngày 15/01/2024, bị đơn chị Phạm Thu H trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Phạm Thu H và anh Hà Văn Tứ kết H1 với nhau trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn ngày 09/9/2011 tại UBND xã Q, huyện Q. Sau khi kết hôn, thời gian đầu vợ chồng sống chung hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2014 cả hai vợ chồng đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để cải thiện kinh tế vì lúc đó hai vợ chồng vẫn đang khó khăn. Trong quá trình chung sống ở nước ngoài vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, thiếu tin tưởng lẫn nhau về tình cảm và kinh tế. Anh Hà Văn T không chăm lo cho vợ con và có quan hệ ngoài lề cùng cô gái khác, không chung thủy với vợ. Hơn nữa, anh Hà Văn T là người Bắc nên phong tục tập quán, lối sống khác nhau, dẫn đến hai vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Năm 2017, chị chuyển ra ngoài ở và vợ chồng sống ly thân từ đó cho đến nay. Năm 2022, chị về Việt Nam, mỗi người ở một nước khác biệt, vợ chồng không còn quan tâm tới cuộc sống của nhau nữa. Nay anh Hà Văn T làm đơn khởi kiện ly hôn, chị Phạm Thu H cũng đồng ý ly hôn. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình chấp nhận cho anh chị được ly hôn theo đúng quy định của pháp luật.

Về quan hệ con chung: Vợ chồng có 01 con chung, cháu Hà Thảo U, sinh ngày 25/03/2012. Hiện nay cháu Hà Thảo U đang sống chung cùng tôi . Sau khi ly hôn, tôi có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng con chung. Việc cấp dưỡng nuôi con sẽ do hai vợ chồng tôi tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Cháu Hà Thảo U có đơn trình bày ý kiến xin được sinh sống cùng mẹ và ông bà ngoại.

Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình phát biểu ý kiến:

Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc thu thập chứng cứ của các đương sự thực hiện đúng quy định, đảm bảo quyền lợi nghĩa vụ của các đương sự. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Hà Văn T và bị đơn chị Phạm Thu H đều có ý kiến, yêu cầu đề nghị Tòa án không hòa giải, xét xử sớm và đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ các Điều 228 và 238 Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử vắng mặt các đương sự.

Về nội dung: Đề nghị áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Về quan hệ hôn nhân: xử cho anh Hà Văn T được ly hôn chị Phạm Thu H. Về con chung: Giao cháu Hà Thảo U, sinh ngày 25/03/2012 cho chị Phạm Thu H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con trưởng thành. Tiền cấp dưỡng nuôi con anh T, chị H tự thỏa thuận giải quyết, nên không xem xét; các đương sự phải chịu án phí và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án và ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Bình tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Hà Văn T là công dân Việt Nam đang cư trú và làm việc tại nước ngoài, đơn khởi kiện ngày 13/11/2023 và bản tự khai ngày 16/01/2024 đều có xác nhận của Văn phòng K tại Đ, Đài Loan xin ly hôn chị Phạm Thu H đang sinh sống tại Việt Nam. Vì vậy, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Bình thụ lý giải quyết vụ án là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; điểm d khoản 1 Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Hà Văn T có ý kiến đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, có xác nhận của Văn phòng K tại Đ ngày 16/01/2024. Bị đơn chị Phạm Thu H có ý kiến đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt tại Đơn xin xét xử vắng mặt và giải quyết sớm vụ án ngày 15/01/2024. Vì vậy, căn cứ Điều 228, 238, 477 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt các đương sự.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Hà Văn T và chị Phạm Thu H kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn vào ngày 09/9/2011 tại UBND xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình, nên quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị H là hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận hạnh phúc. Năm 2014 vợ chồng cùng nhau đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan để có thêm thu nhập cải thiện kinh tế gia đình. Trong thời gian vợ chồng chung sống ở nước ngoài, giữa vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn trong tình cảm và kinh tế, phong tục tập quán và lối sống không hòa hợp nhau. Năm 2017, chị H trở về Việt Nam, còn anh T tiếp tục ở lại Đài Loan. Từ đó, hai bên không hề liên lạc hỏi han, quan tâm gì đến nhau, ai lo và biết công việc của người đó, hai bên sống ly thân, nên tình cảm vợ chồng không còn. Hiện tại cả anh T và chị H đều khẳng định mâu thuẩn vợ chồng đã căng thẳng, đã sống ly thân không còn quan tâm gì đến nhau, nên tình cảm vợ chồng thực sự không còn, không thể trở lại sống chung cùng nhau được. Do đó, anh T làm đơn xin ly hôn chị H, chị H cũng đồng ý ly hôn với anh T. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn vợ chồng đã căng thẳng, đời sống chung thực tế không tồn tại, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và yêu cầu của anh Hà Văn T xin ly hôn chị Phạm Thu H là phù hợp với điều kiện thực tế của hai bên, phù hợp với quy định tại Điều 56 luật Hôn nhân và Gia đình.

[3] Về quan hệ con chung: Xét ý kiến, yêu cầu của anh T, chị H và con chung thấy. Hiện nay cháu U đang sống chung cùng chị Phạm Thu H và ông bà ngoại đã ổn định cuộc sống kể từ khi anh T đi nước ngoài cho đến nay. Cháu U cũng có nguyện vọng được sống chung cùng chị H và ông bà ngoại; còn anh T đang làm ăn sinh sống ở nước ngoài, chưa biết khi nào về nước nên khó có điều kiện để quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng cháu U. Anh T, chị H đều thỏa thuận thống nhất giao cháu Hà Thảo U cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng còn tiền cấp dưỡng nuôi cháu U anh T, chị H thỏa thuận tự giải quyết không yêu cầu Tòa án giải quyết. Vì vậy, Hội đồng xét xử thấy cần giao cháu Hà Thảo U cho chị H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tiền cấp dưỡng nuôi con anh T, chị H thỏa thuận tự giải quyết không xem xét là phù hợp ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên, ý kiến nguyện vọng, điều kiện thực tế của các bên và con chung, phù hợp với quy định tại các Điều 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Anh T và chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[5] Về án phí sơ thẩm: Anh Hà Văn T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238; các Điều 469, 474, 475, điểm a khoản 5 Điều 477; Điều 479 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBNTVQH ngày 30/12/2016 của Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án, Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hà Văn T được ly hôn chị Phạm Thu H. Hôn nhân của anh Hà Văn T và chị Phạm Thu H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
  2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Hà Thảo U, sinh ngày 25/03/2012 cho chị Phạm Thu H được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tiền cấp dưỡng nuôi con chung anh T, chị H tự thỏa thuận giải quyết.

    Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trong nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Hoặc nhận thấy người trực tiếp nuôi con không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì người không trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về án phí sơ thẩm: Anh Hà Văn T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0004781 ngày 04/01/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Bình (Anh T đã nộp đủ).

Án sơ thẩm xử công khai, anh Hà Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 30 ngày, chị Phạm Thu H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh QB (P9);
  • - TANDCC Đà Nẵng;
  • - Các đương sự;
  • - Cục THA dân sự tỉnh Quảng Bình;
  • - UBND xã Quảng Phú;
  • - Lưu án văn, Hồ sơ vụ án.

Dương Viết Hải

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

đã ký

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 30/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: CHO LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger