Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày: 30/7/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thu Ngân

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thụy Thùy Nga

Ông Nguyễn Minh Toàn

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Mai Chi – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Huy - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Huỳnh Thế B, sinh ngày 15/8/2001, tại tỉnh Tiền Giang

Nơi cư trú: Ấp L, xã B, huyện C, Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn N và bà Nguyễn Thị Ánh T; Em: 01 người; Bị cáo chưa có vợ, con;Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Họ và tên: Phạm Minh Q, sinh ngày 11/5/2007, tại tỉnh Tiền Giang

Nơi cư trú: Ấp V, xã V, huyện C, Tiền Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn P và bà Thái Kim P1; A, chị em: Có 03 người, lớn nhất sinh năm 2001, nhỏ nhất sinh năm 2011; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không; Tiền án: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 27/01/2024, chuyển tạm giam từ ngày 29/01/2024 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Phạm Minh Q: Phạm Văn P, sinh năm 1981; Địa chỉ: Ấp V, xã V, huyện C, Tiền Giang; là cha ruột (vắng mặt).

- Người bào chữa cho bị cáo: Phạm Văn K, Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T (có mặt).

1

Người tham gia tố tụng khác:

  • -Người bị hại: Nguyễn Quốc T1, sinh ngày 08/ 9/ 2008
  • Đại diện hợp pháp của bị hại:
    • + Nguyễn Văn T2, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp Đ, xã S, huyện C, Tiền Giang (vắng mặt)
    • + Nguyễn Thị Ú, sinh năm 1979; Địa chỉ: Ấp Đ, xã S, huyện C, Tiền Giang (vắng mặt)
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • +Huỳnh Văn N, sinh năm 1977; Địa chỉ: Ấp L, xã B, huyện C, Tiền Giang (có mặt).
    • + Trương Văn N1, sinh năm 1963; Địa chỉ: Ấp M, xã S, huyện C, Tiền Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 11 giờ ngày 26/01/2024, Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q cùng ngồi uống nước tại 01 quán giải khát không tên gần cầu “Bà T3” thuộc khu vực giáp ranh giữa 02 xã B - V. Do không có tiền tiên xài cá nhân nên B rủ Q đi tìm các em học sinh để cướp giật tài sản kiếm tiền tiêu xài thì Q đồng ý. B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Dream màu nâu, biển số 63S3 - 2579 (xe do anh Huỳnh Văn N, sinh năm 1975, nơi thường trú: ấp L, xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang là cha ruột của B làm chủ sở hữu) chở Q ngồi sau đi trên các tuyến đường và thống nhất B điều khiển xe còn Q ngồi sau sẽ trực tiếp giật tài sản.

Khi B điều khiển xe 63S3 - 2579 lưu thông trên đường T đoạn thuộc ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì cả hai nhìn thấy em Nguyễn Quốc T1 là nam sinh của trường Trung học phổ thông V đang điều khiển xe đạp điện lưu thông theo hướng ngược lại, B và Q nhìn thấy phía trước rổ xe đạp điện có để 01 chiếc cặp màu đen nên B điều khiển xe quay đầu lại chạy theo sau xe khoảng 500m. Khi thấy trên đường vắng người, B điều khiển xe vượt lên, áp sát bên trái xe T1 còn Q ngồi sau dùng tay phải giật lấy chiếc cặp ở trước rổ xe, B điều khiển xe tăng ga tẩu thoát. Khi lấy được chiếc cặp, cả hai chạy được một đoạn khoảng 400m thì Q mở chiếc cặp vừa giật được ra kiểm tra thấy bên trong cặp có 93.000 đồng (gồm 04 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng, 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng) và tập, sách, dụng cụ học tập các loại. Q nói cho B biết chỉ có 90.000 đồng, rồi Q lấy số tiền 93.000 đồng bên trong chiếc cặp vừa giật được nhét vào túi quần của Q và ném bỏ chiếc cặp cùng toàn bộ tập, sách, dụng cụ học tập xuống ven đường. B chở Q đến 01 quán cà phê không tên gần cầu B thuộc xã B, huyện C, tỉnh Tiền Giang. Tại đây, Q lấy tiền vừa giật được chia cho B 45.000 đồng còn Q giữ 48.000 đồng, cả hai dùng tiền này để tiêu xài cá nhân.

2

* Vật chứng, đồ vật được thu giữ gồm:

  • - 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu tím, trắng, đỏ; 01 quần short Jean màu xanh; 01 đôi dép quai ngang màu xanh có ghi chữ “MODEL THAILAN”; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen và 01 áo khoác vải màu đen, trước ngực áo có ghi chữ “LIFE WORK” màu trắng (do Huỳnh Thế B mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
  • - 01 nón kết màu trắng có ghi chữ “Titleist”; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía sau có chữ “BALICERGA FUIURE”; 01 quần short jean màu xanh bên trái phía trước có ghi chữ “Lovers House”; 01 đôi dép quai ngang sọc trắng đen (do Phạm Minh Q mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
  • - 01 cái cặp bằng vải màu đen, hiệu Kim L; 03 quyển tập 96 trang, có chữ viết; 01 quyển tập loại 100 trang, có chữ viết; 01 quyển sách môn Ngữ văn lớp 10; 01 quyển sách môn Toán lớp 10; 01 quyển sách môn Tiếng Anh lớp 10; 01 quyển sách động từ bất quy tắc và ngữ pháp Tiếng Anh căn bản và 01 quyển sách hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10.
  • - 01 xe môtô hai bánh hiệu Dream màu nâu, biển số 63S3 2579, số khung: VKVDCG05UM204179, số máy: VLFKV1P50FMG24F404.
  • - 01 (một) đĩa DVD có chứa 02 đoạn dữ liệu điện tử camera ghi nhận quang cảnh trước tiệm tạp hóa của chị Nguyễn Thị Hải Y hướng ra đường T vào trưa ngày 26/01/2024, trong đó có 01 đoạn ghi nhận hình ảnh 02 đối tượng nam thanh niên mặc áo màu đen đi trên xe Dream màu nâu biển số 63S3 - 2579 chạy từ hướng đầu đường T vào ấp Đ và một đoạn ghi nhận 02 đối tượng trên chạy từ ấp Đ ra L, người ngồi sau có ôm 01 cái cặp màu đen. Kèm theo hồ sơ vụ án.

* Tại Bản kết luận định giá tài sản số 20/KL-HĐĐG ngày 07/3/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện C, tỉnh Tiền Giang kết luận: Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại định giá được trong vụ cướp giật tài sản nêu trên là 296.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Nguyễn Quốc T1 yêu cầu Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q bồi thường số tiền 1.000.000 đồng. Anh Huỳnh Văn N là cha ruột B đã bồi thường số tiền 500.000 đồng và cho Q số tiền 500.000 đồng để bồi thường cho T1. Bị hại T1 đã nhận tiền xong và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho B và Q.

Tại bản cáo trạng số 70/CT-VKSCT ngày 03/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q về tội “ Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q về tội “ Cướp giật tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d, g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự và phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân cùng các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và đề nghị Hội đồng xét xử:

1. Về hình phạt:

3

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Quy phạm t " Cướp giật tài sản".

- Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 32; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, đểm 0 khoàn 2 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thế B từ 03 năm 06 tháng đến 04 năm tù

- Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 17, Điều 100 điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Q từ 0 1 năm 06 tháng đến 02 năm tù

2.Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đề nghị tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu tím, trắng, đỏ; 01 quần short Jean màu xanh; 01 đôi dép quai ngang màu xanh có ghi chữ “MODEL THAILAN”; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen và 01 áo khoác vải màu đen, trước ngực áo có ghi chữ “LIFE WORK” màu trắng (do Huỳnh Thế B mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
  • - 01 nón kết màu trắng có ghi chữ “Titleist”; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía sau có chữ “BALICERGA FUIURE”; 01 quần short jean màu xanh bên trái phía trước có ghi chữ “Lovers House”; 01 đôi dép quai ngang sọc trắng đen (do Phạm Minh Q mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).

3.Về trách nhiệm dân sự:

Không đặc ra xem xét

Ý kiến bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý Phạm Văn K: Thống nhất với quan điểm xác định tội danh và khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo Phạm Minh Q nhưng khi áp dụng hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ sau: Bị cáo là người chưa thành niên, gia đình có hoàn cảnh khó khăn, bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Trong quá trình điều tra gia đình bị cáo B đã bồi thường thay cho bị cáo, gia định bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 91 Bộ luật hình sự xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

4

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Xét thấy: Tại phiên tòa, bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố: Vào khoảng 11 giờ ngày 26/01/2024, Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q cùng ngồi uống nước tại 01 quán giải khát gần cầu “Bà T3” thuộc khu vực giáp ranh giữa 02 xã B - V. Do không có tiền tiên xài nên B rủ Q đi tìm các em học sinh để cướp giật tài sản thì Q đồng ý và thống nhất B là người chở còn Q là người cướp giật.

Khi B điều khiển xe lưu thông trên đường thuộc ấp Đ, xã S, huyện C, tỉnh Tiền Giang thì cả hai nhìn thấy em Nguyễn Quốc T1 đang điều khiển xe đạp điện lưu thông theo hướng ngược lại, B và Q nhìn thấy phía trước rổ xe đạp điện có để 01 chiếc cặp màu đen nên B điều khiển xe quay đầu lại chạy theo sau xe T1 trên đường T khoảng 500m. Khi thấy trên đường vắng người, B điều khiển xe vượt lên, áp sát bên trái xe T1 còn Q ngồi sau dùng tay phải giật lấy chiếc cặp ở trước rổ xe, B điều khiển xe tăng ga tẩu thoát. Khi lấy được chiếc cặp, cả hai chạy được một đoạn khoảng 400m thì Q mở chiếc cặp vừa giật được ra kiểm tra thấy bên trong cặp có 93.000 đồng và tập, sách, dụng cụ học tập các loại. Sau đó Q ném bỏ chiếc cặp còn tiền thì chia nhau xài.

Lời nhận tội trên các của bị cáo phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các lời khai trước đây của bị cáo tại cơ quan điều tra, cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy đã đủ cơ sở xác định bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Quy phạm t “ Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm d,g khoản 2 Điều 171 Bộ luật hình sự.

[3] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để phục vụ nhu cầu tiêu xài cá nhân, hành vi của các bị cáo là xem thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ.

[4] Xét về nhân thân: Bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Q có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, tác động gia đình khắc phục hậu quả bồi thường thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo B có người thân là người có công cách mạng. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Phạm Minh Q không có tình tiết tăng nặng. Bị cáo Huỳnh Thế B có một tình tiết tăng nặng là xúi giục người dưới 16 tuổi phạm tội.

[7] Về áp dụng hình phạt: Các bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên, đối với bị cáo B khi phạm tội với vai trò là người xúi giục, rủ rê nên hình phạt có phần nghiêm khắc hơn.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo và đại diện bị hại đã thỏa thuận bồi thường xong nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[9] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự : Cần tịch thu tiêu hủy:

  • - 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu tím, trắng, đỏ; 01 quần short Jean màu xanh; 01 đôi dép quai ngang màu xanh có ghi chữ “MODEL THAILAN”; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen và 01 áo khoác vải màu đen, trước ngực áo có ghi chữ “LIFE WORK” màu trắng (do Huỳnh Thế B mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).

5

  • - 01 nón kết màu trắng có ghi chữ “Titleist”; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía sau có chữ “BALICERGA FUIURE”; 01 quần short jean màu xanh bên trái phía trước có ghi chữ “Lovers House”; 01 đôi dép quai ngang sọc trắng đen (do Phạm Minh Q mặc khi thực hiện hành vi phạm tội).
  • - 01 cái cặp bằng vải màu đen, hiệu Kim L; 03 quyển tập 96 trang, có chữ viết; 01 quyển tập loại 100 trang, có chữ viết; 01 quyển sách môn Ngữ văn lớp 10; 01 quyển sách môn Toán lớp 10; 01 quyển sách môn Tiếng Anh lớp 10; 01 quyển sách động từ bất quy tắc và ngữ pháp Tiếng Anh căn bản và 01 quyển sách hoạt động trải nghiệm hướng nghiệp lớp 10. Đây là tài sản của em Nguyễn Quốc T1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tiền Giangra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho T1 xong.
  • - 01 xe môtô hai bánh hiệu Dream màu nâu, biển số 63S3 2579, số khung: VKVDCG05UM204179, số máy: VLFKV1P50FMG24F404. Đây là tài sản của anh Huỳnh Văn N là cha ruột của Huỳnh Thế B đứng tên chủ sở hữu. Quá trình điều tra anh N khai đã đưa xe môtô trên cho Huỳnh Thế B sử dụng để làm phương tiện đi lại hàng ngày. Tuy nhiên, việc B sử dụng xe môtô nói trên chở Q đi cướp giật tài sản thì anh N hoàn toàn không biết nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H, tỉnh Tiền Giang ra Quyết định xử lý vật chứng trao trả lại cho anh N xong.
  • - 01 (một) đĩa DVD có chứa 02 đoạn dữ liệu điện tử camera ghi nhận quang cảnh trước tiệm tạp hóa của chị Nguyễn Thị Hải Y hướng ra đường T vào trưa ngày 26/01/2024, trong đó có 01 đoạn ghi nhận hình ảnh 02 đối tượng nam thanh niên mặc áo màu đen đi trên xe Dream màu nâu biển số 63S3 - 2579 chạy từ hướng đầu đường T vào ấp Đ và một đoạn ghi nhận 02 đối tượng trên chạy từ ấp Đ ra L, người ngồi sau có ôm 01 cái cặp màu đen. Kèm theo hồ sơ vụ án.

[10] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

[11] Xét đề nghị của Kiểm sát viên phù hợp nhận định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[12] Xét đề nghị của người bào chữa cho bị cáo Phạm Minh Q là có căn cứ, phù hợp nhận định nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt:

- Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thế B và Phạm Minh Quy phạm t" Cướp giật tài sản".

- Áp dụng điểm d, g khoản 2 Điều 171; Điều 32; Điều 35; Điều 50 ; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm 0 khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

6

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thế B 03 (ba) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 27/01/2024

- Áp dụng điểm d,g khoản 2 Điều 171; Điều 100; điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Minh Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ thời điểm bắt tạm giữ là ngày 27/01/2024.

2. Về vật chứng:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự :

Tịch thu tiêu hủy: 01 áo sơ mi dài tay, sọc caro màu tím, trắng, đỏ; 01 quần short Jean màu xanh; 01 đôi dép quai ngang màu xanh có ghi chữ “MODEL THAILAN”; 01 nón bảo hiểm màu xanh đen và 01 áo khoác vải màu đen, trước ngực áo có ghi chữ “LIFE WORK” màu trắng; 01 nón kết màu trắng có ghi chữ "Titleist”; 01 áo thun ngắn tay màu đen phía sau có chữ “BALICERGA FUIURE”; 01 quần short jean màu xanh bên trái phía trước có ghi chữ “Lovers House”; 01 đôi dép quai ngang sọc trắng đen.

(Vật chứng trên hiện do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10/5/2024)

3. Về án phí:

Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo:

Bị cáo, Người bào chữa cho bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, đại diện hợp pháp của bị hại bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND h. Châu Thành;
  • - Công an h. Châu Thành;
  • - Chi cục THADS h. Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Thu Ngân

7

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG về cướp giật tài sản (criminal case)

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Criminal Case)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo: Huỳnh Thế Bảo và Phạm Minh Quy phạm tội cướp giật tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger