Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HẬU GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-PT

Ngày 28 - 10 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Thái Sơn.

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Lâm; Bà Lê Thị Thọ.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Nhật Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Ông Hứa Minh Thạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLPT-HS ngày 25 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo Nguyễn Phúc D, Lê Vũ Nhựt L do có kháng cáo của các bị cáo với Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (viết tắt bản án sơ thẩm).

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Nguyễn Phúc D, sinh ngày 21/11/2004; tại huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã B, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị T1; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 15/9/2023 bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 6.500.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích theo Quyết định số 16/QĐ-XPHC, đã nộp tiền phạt ngày 02/10/2023; bị bắt tạm giam từ ngày 15/01/2024 đến nay; có mặt.
  2. Lê Vũ Nhựt L, sinh ngày 06/9/2005 (tính tới thời điểm phạm tội bị cáo được 17 tuổi 11 tháng 15 ngày); tại huyện P, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông chưa xác định được và bà Lê Ngọc A; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: có 01 tiền sự; ngày 06/6/2022 bị Công an huyện P, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính số tiền 3.250.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích theo Quyết định số 112/QĐ-XPHC, bị cáo chưa nộp tiền phạt; nhân thân: ngày 14/6/2024 bị Toà án nhân dân huyện Phụng Hiệp, tỉnh Hậu Giang xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội Giao cấu với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi theo Bản án số 40/2024/HS-ST. Ngày 23/7/2024 bị Toà án nhân dân tỉnh Hậu Giang xử phạt 10 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích theo Bản án số 50/2024/HS-PT; bị bắt tạm giữ, tạm giam: không; bị cáo đang bị bắt giam trong vụ án khác; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo L: Ông Vũ Anh Q. Là Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý của nhà nước tỉnh Hậu Giang; có mặt.

Ngoài ra vụ án còn có các bị cáo Lê Hải Đ, Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Đức T2 có kháng cáo, nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên toà và bị hại không có kháng cáo hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị nên không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 21/08/2023, bị cáo Nguyễn Phúc D điều khiển xe môtô biển kiểm soát 95E1-942.16 chở bị cáo Lê Hải Đ đi từ nhà của Lê Vũ Nhựt L chạy theo Quốc Lộ F ra hướng thị trấn C, huyện C để đến nhà của Nguyễn Đức T2 tại ấp X, xã T, huyện C, tỉnh Hậu Giang. Khi đi Đ mang theo cây dao tự chế dài 50cm, trên đường đi D và Đ ghé đổ xăng tại cây xăng T6. Thời điểm này quán cà phê tại cây xăng có Nguyễn Đạt T3 cùng với Nguyễn Quốc L2, Nguyễn Thiên P và nam thanh niên tên N (chưa rõ nhân thân) đang ngồi uống nước. Khi nhìn thấy D và Đ, L2 nhận ra D và Đ là người đánh L2 vào đêm 20/08/2023 nên L2 nói với T3, P và N "nó kia, nó kia", rồi cầm nón bảo hiểm đứng lên chỉ về hướng D và Đ. Lúc này, Đ xuống xe lấy con dao tự chế mang theo chỉ về hướng L2 chửi, thách thức. Sau đó, D điều khiển xe chở Đ bỏ đi đến nhà của T2. Sau khi đến nhà T2, D và Đ nói lại sự việc xảy ra tại quán cà phê cho T2 nghe rồi rủ T2 đi đánh lại nhóm của L2, T2 đồng ý. Lúc này, D và Đăng diện thoại rủ thêm Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn L1 và Lê Vũ Nhựt L, cả nhóm hẹn gặp nhau tại quán C2 đối diện trường Trung học cơ sở N1 thuộc xã T, huyện P, tỉnh Hậu Giang. Sau đó, D điều khiển xe chở T2 và Đ đến quán C2, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe môtô biển kiểm soát 95E1-942.16 chở Lê Vũ Nhựt L và Nguyễn Chí C đến điểm hẹn. Trước khi đi, L cầm theo đoạn ống tuýp dài khoảng 1m50 một đầu hàn gắn lưỡi dao, còn C cầm con dao dài khoảng 50cm. Khi gặp nhau, Đ nói với cả nhóm đi ra quán cà phê tại cây xăng T6 chém nhau với nhóm của Nguyễn Quốc L2, cả nhóm thống nhất rồi cùng đi.

Khi đi, Nguyễn Văn L1 điều khiển xe môtô chở L và Đ, còn Nguyễn Phúc D điều khiển xe chở T2 và C. Khi đến quán cà phê tại cây xăng T6, nhìn thấy nhóm thanh niên ngồi uống nước gồm: Nguyễn Đạt T3, Nguyễn Quốc L2, Nguyễn Thiên P, Hồ Thanh M, Nguyễn Tấn L3, Bùi Ngọc D1, Trần Vũ S, Nguyễn Thanh T4 và nam thanh niên tên N. Lúc này, Nguyễn Phúc D và Nguyễn Văn L1 đậu xe bên ngoài, Đ, C và L chạy vào rượt chém nhóm của Nguyễn Quốc L2. Khi phát hiện bị chém, nhóm của L2 bỏ chạy. Hồ Thanh M chạy không kịp nên bị Lê Hải Đ dùng dao tự chế chém trúng 03 vết vào vùng lưng. M tiếp tục bỏ chạy ra Quốc lộ F thì Nguyễn Chí C đuổi theo dùng cây dao dài khoảng 50cm chém một vết trúng vào cánh tay trái làm chảy nhiều máu. Sau khi chém gây thương tích cho Hồ Thanh M, nhóm của Đ lên xe bỏ chạy về hướng thị trấn R. Khi đến cầu B thuộc địa phận thị trấn R, huyện C, tỉnh Hậu Giang, các bị cáo ném bỏ hung khí xuống sông. Hồ Thanh M sau khi bị chém gây thương tích được những người xung quanh đưa đi cấp cứu và điều trị tại bệnh viện N2 đến ngày 28/8/2023 thì xuất viện.

Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 256/KITTCT-TTPY ngày 04/12/2023 của Trung tâm Pháp y Sở Y tế tỉnh H đối với Hồ Thanh M kết luận:

“1. Các kết quả chính: Vết sẹo phần mềm, vết phẫu thuật cánh tay trái: Đứt dây thần kinh quay trái.

2. Kết luận

2.1. Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Hồ Thanh M tại thời điểm giám định là 43% (bốn mươi ba phần trăm).

2.2. Cơ chế hình thành vết thương: Vết sẹo mặt sau ngoài cánh tay trái của em Hồ Thanh M do vật sắc bén tác động trực tiếp gây nên.

2.3. Vật gây thương tích: Vết sẹo mặt sau ngoài cánh tay trái do vật sắc bén gây nên."

Đồ vật thu giữ được:

  • - Xe môtô biển kiểm soát 95EA-073.93 nhãn hiệu SYM, loại Galazy, số máy VMVBUAD124537, số khung RLGMF05AMND124537.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6s màu xám của Nguyễn Phúc D.
  • - 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A11 màu xanh của Nguyễn Chí C1.

Xử lý đồ vật thu giữ:

Ngày 13/4/2024, Cơ quan điều tra đã xử lý trả cho Phạm Xuân Tiến P1 xe mô tô biển kiểm soát 95EA-073.93.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại:

đại diện gia đình bị cáo Nguyễn Phúc D và Lê Hải Đ đã thoả thuận khắc phục bồi thường cho bị hại Hồ Thanh M số tiền 17.000.000 đồng. Bị hại và đại diện bị hại đồng ý nhận, không có yêu cầu gì thêm.

Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang quyết định:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Phúc D, Lê Vũ Nhựt L phạm tội Cố ý gây thương tích.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc D 06 (sáu) năm tù. Thời hạn tính từ ngày 15/01/2024. Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án.

Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 91; khoản 1 Điều 101 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Lê Vũ Nhựt L 03 (ba) năm 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tính từ ngày chấp hành án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh, hình phạt đối với các bị cáo Lê Hải Đ, Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn L1, Nguyễn Đức T2; tuyên về trách nhiệm bồi thường; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, bị cáo Nguyễn Phúc D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Ngày 26 tháng 8 năm 2024, bị cáo Lê Vũ Nhựt L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Tại phiên tòa bị cáo L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo D rút yêu cầu kháng cáo.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày quan điểm:

Kháng cáo của các bị cáo là đúng theo quy định của pháp luật, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Tại phiên toà bị cáo Nguyễn Phúc D rút kháng cáo, nên đề nghị đình chỉ xét xử phúc thẩm đối bị cáo D.

Đối với bị cáo Lê Vũ Nhựt L, bản án sơ thẩm căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134 tuyên bố bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích. Xử phạt bị cáo 03 năm 09 tháng tù là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp tài liệu chứng cứ mới, mức hình phạt bản án sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo là phù hợp. Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Trình bày lời tự bào chữa: Bị cáo L không bào chữa.

Trình bày lời bào chữa cho bị cáo L: Người bào chữa thống nhất hành vi của bị cáo phạm tội như bản án sơ thẩm quy kết. Đề nghị xem xét lại mức hình phạt cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo có phần nghiêm khắc. Bởi, bị cáo tham gia vào vụ án với vai trò giúp sức, không trực tiếp chém gây thương tích cho bị hại. Lúc phạm tội là người chưa đủ 18 tuổi, có hoàn cảnh gia đình khó khăn thuộc hộ cận nghèo, có gia đình không hoàn chỉnh (không xác định được cha từ nhỏ), sau khi phạm tội được bị hại xin bãi nại. Để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đề nghị áp dụng thêm khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Phát biểu đối đáp: Kiểm sát viên cho rằng các tình tiết giảm nhẹ người bào chữa nêu ra cho bị cáo đã được cấp sơ thẩm áp dụng đầy đủ và cân nhắc mức hình phạt phù hợp. Tại phiên toà bị cáo không cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ nào mới, đề nghị giữ nguyên quan điểm không chấp nhận kháng cáo.

Nói lời sau cùng: Bị cáo L thừa nhận hành vi phạm tội, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Nguyễn Phúc D, Lê Vũ Nhựt L kháng cáo đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Tại phiên toà, bị cáo Nguyễn Phúc D rút yêu cầu kháng cáo. Xét việc rút kháng cáo của bị cáo D là tự nguyện, phù hợp với quy định tại Điều 342 của Bộ luật Tố tụng hình sự, nên chấp nhận việc rút kháng cáo, đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo D.

[3]. Đối với bị cáo Lê Vũ Nhựt L, tại phiên tòa thừa nhận hành vi phạm tội như quyết định của bản án sơ thẩm. Xét lời thừa nhận của bị cáo là phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm thu thập trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: ngày 21/8/2024, do có mâu thuẫn với nhóm của Nguyễn Quốc L2, các bị cáo Nguyễn Phúc D, Lê Hải Đ rủ Nguyễn Đức T2, Nguyễn Chí C, Nguyễn Văn L1 và Lê Vũ Nhựt L cùng thống nhất mang theo dao tự chế đến quán cà phê Tám T5 chém nhóm của Nguyễn Quốc L2. Đến nơi D, L1 đậu xe bên ngoài, Đ, C, L vào quán rượt chém nhóm của L2. Nhóm của L2 bỏ chạy, riêng Hồ Thanh M chạy không kịp nên bị Đ chém trúng 03 nhát vào vùng lưng, C chém trúng 01 nhát vào cánh tay trái gây thương tích. Theo kết luận giám định của cơ quan chuyên môn, Hồ Thanh M bị thương tích tỷ lệ 43%. Với hành vi thực hiện như đã nêu cụ thể tại phần nội dung vụ án, bản án sơ thẩm kết án bị cáo Lê Vũ Nhựt L phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 (nhưng thuộc trường hợp quy định tại điểm a, i khoản 1) của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (viết tắt Bộ luật Hình sự) là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4]. Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo L, Hội đồng xét xử xét thấy: khi xét xử bản án sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[4.1]. Bản án sơ thẩm áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là không đúng quy định của pháp luật. Bởi: sau khi gây hậu quả, bị cáo cũng như đại diện gia đình không thoả thuận bồi thường, không nộp tiền khắc phục hậu quả. Số tiền 17.000.000 đồng bồi thường cho bị hại là tiền của bị cáo D và bị cáo Đ. Việc bị hại tại phiên toà sơ thẩm thống nhất số tiền bồi thường đã nhận 17.000.000 đồng là yêu cầu chung đối với tất cả các bị cáo; các bị cáo D, Đ thống nhất tự nguyện khắc phục hậu quả không yêu cầu các bị cáo khác trả lại tiền theo tỷ lệ, không đồng nghĩa với việc bị cáo L được hưởng tình tiết giảm nhẹ “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Do không có kháng cáo của bị hại, kháng nghị của Viện kiểm sát theo hướng tăng nặng, nên cấp phúc thẩm không làm bất lợi cho bị cáo L. Cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm.

[4.2]. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ mới. Xét hành vi phạm tội của bị cáo thể hiện tính chất côn đồ, xem thường sức khoẻ người khác, nên bản án sơ thẩm cân nhắc mức hình phạt 03 năm tù 09 tháng là phù hợp, không có căn cứ chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ mức hình phạt của bị cáo.

[4.3]. Không chấp nhận lời bào chữa đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 54 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo L. Lý do, bị cáo L chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ theo khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không đủ điều kiện áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự.

[5]. Với những nhận định như nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo L, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[6]. Đối với các quyết định khác của bản án sơ thẩm do không bị kháng cáo, kháng nghị hoặc không liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[7]. Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Vũ Nhựt L chịu theo quy định của pháp luật, do kháng cáo không được chấp nhận. Bị cáo Nguyễn Phúc D không phải chịu, do đã rút kháng cáo tại phiên toà.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 348; điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

  1. Đình chỉ xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLPH-HS ngày 25 tháng 9 năm 2024 đối với Nguyễn Phúc D phạm tội Cố ý gây thương tích. Bản án hình sự sơ thẩm số 52/2024/HS-ST ngày 16/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Nguyễn Phúc D kể từ ngày tuyên án phúc thẩm (ngày 28/10/2024).
  2. Không chấp nhận kháng cáo ngày 26/8/2024 của bị cáo Lê Vũ Nhựt L xin giảm nhẹ hình phạt, giữ nguyên bản án sơ thẩm như sau:

    Tuyên bố: Bị cáo Lê Vũ Nhựt L phạm tội Cố ý gây thương tích.

    Căn cứ điểm c khoản 3 Điều 134; Điều 38; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 58; các Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự.

    Xử phạt bị cáo Lê Vũ Nhựt L 03 (ba) năm 09 (chín) tù. Thời hạn tù tính từ ngày chấp hành án.

  3. Án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, g khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức án phí, lệ phí Toà án.

    Buộc bị cáo Lê Vũ Nhựt L chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

    Bị cáo Nguyễn Phúc D không phải chịu.

  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (ngày 28/10/2024).
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thái Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-PT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG về hình sự (cố ý gây thương tích)

  • Số bản án: 104/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cố ý gây thương tích)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HẬU GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ý án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger