|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA TỈNH SƠN LA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/HS-ST Ngày 28/8/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm và những người tiến hành tố tụng tại điểm cầu Trung tâm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lê Lương Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- ông Đoàn Ngọc Hùng.
- bà Đoàn Thị Thúy.
Thư ký phiên toà: bà Lường Khánh Ly - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La tham gia phiên toà: ông Nguyễn Bằng Phi - Kiểm sát viên.
Tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S:
Ông Đỗ Anh T – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Người tham gia tố tụng khác: Cán bộ Công an dẫn giải gồm có Thiếu tá Trần Hùng V và Đại úy Lò Văn M – Cán bộ Đội hỗ trợ tư pháp và thi hành án hình sự Công an thành phố S.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024 tại tại điểm cầu Trung tâm trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2024/TLST-HS, ngày 29/7/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 107/2024/QĐXXST-HS, ngày 14/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Tòng Văn Đ (tên gọi khác: Không), sinh ngày 28/8/1999 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Trú tại tổ I, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 12/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nam. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Tòng Văn S, sinh năm 1980 và bà Hà Thị N, sinh năm 1981, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Sơn La.
2. Quàng Văn Đ1 (tên gọi khác: Không), sinh ngày 12/02/2002 tại thành phố S, tỉnh Sơn La; Nơi thường trú tại bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La. Trình độ học vấn: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Giới tính: Nam. Dân tộc: Thái. Quốc tịch: Việt Nam. Tôn giáo, đảng phái, đoàn thể: Không. Con ông Quàng Văn H, sinh năm 1981 và bà Cà Thị C, sinh năm 1981, bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không. Tiền án: tại bản án số 18/2022/HSST, ngày 26/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã xử phạt bị cáo 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (chưa được xóa án tích). Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 29/12/2023 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Sơn La.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Quàng Văn H, sinh năm 1981, trú tại bản N, xã H, thành phố S, tỉnh Sơn La (có mặt tại điểm cầu T).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 20 giờ 00 phút, ngày 28/12/2024, tổ công tác Công an phường Quyết Tâm, thành phố S làm nhiệm vụ tại khu vực tổ B, phường Q hiện Quàng Văn Đ1 đang điều khiển xe gắn máy màu chở theo Tòng Văn Đ, nghi ngờ hai đối tượng có liên quan đến tội phạm về ma túy, tổ công tác đã yêu cầu cả hai dừng xe lại để kiểm tra, quá trình kiểm tra thì người ngồi sau là Tòng Văn Đ tự giác lấy từ trong túi áo phía trước đang mặc bên phải giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc, bên trong có 06 viên nén màu hồng, cả hai bị cáo đều khai nhận là ma túy hồng phiến do cả hai cùng góp tiền mua về để sử dụng, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với các bị cáo và thu giữ vật chứng.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy bạc, bên trong có 06 viên nén màu hồng, nghi là ma túy hồng phiến; 01 xe máy nhãn hiệu Dream màu nâu, biển kiểm soát 89H2 1070, xe đã cũ qua sử dụng.
Ngày 29/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố S đã thành lập Hội đồng bóc mở niêm phong, cân tịnh và lấy mẫu giám định vật chứng, kết quả cân tịnh: 06 viên nén đồng dạng màu hồng thu giữ khi bắt quả tang có khối lượng 0,58 gam; lấy 03 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,29 gam cho vào túi ni lon màu trắng hàn kín lại làm mẫu gửi giám định, ký hiệu Q, còn lại 03 viên nén đồng dạng màu hồng có khối lượng 0,29 gam cho vào túi ni lon màu trắng làm mẫu lưu kho ký hiệu Đ.
Cùng ngày, cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số 335/QĐ – ĐCSKT – MT, trưng cầu Phòng PC 09 – Công an tỉnh S để giám định chất ma túy.
Tại bản kết luận giám định số 181/KL-KTHS, ngày 31/12/2023 của phòng K Công an tỉnh S kết luận: "Mẫu ký hiệu Q gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine; khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,29 gam. Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,58 gam loại Methamphetamine".
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Tòng Văn Đ và Quàng Văn Đ1 khai nhận hành vi phạm tội như sau: Khoảng 19 giờ 30 ngày 28/12/2023, khi đang cùng nhau ngồi uống bia tại khu vực tổ H, phường C, thành phố S thì Tòng Văn Đ rủ Quàng Văn Đ1 góp tiền đi mua ma túy để cùng nhau sử dụng, Quàng Văn Đ1 đồng ý và góp 200.000,đ, Tòng Văn Đ góp 300.000,đ, sau đó Quàng Văn Đ1 điều khiển xe máy chở Tòng Văn Đ đi đến khu vực bản D, xã C để tìm mua ma túy. Đến khu vực ngã ba bản Dửn, xã C cả hai gặp một người đàn ông không quen biết đang đứng ở đó, qua trao đổi thì cả hai bị cáo đã mua được của người đàn ông này 01 gói giấy bạc bên trong có 06 viên ma túy hồng phiến với giá 500.000,đ, sau khi mua được ma túy thì Tòng Văn Đ cất vào túi áo khoác phía trước bên phải đang mặc rồi Quàng Văn Đ1 điều khiển xe chở Tòng Văn Đ đi tìm nơi để sử dụng, khi đi đến khu vực ngã ba thuộc tổ B, phường Q thì gặp tổ công tác công an phường Q kiểm tra, phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Quàng Văn H trình bày: Ông là bố đẻ của Quàng Văn Đ1, cách đây mấy năm ông có mua lại một chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 89H2 1070 đã cũ của một người ở tỉnh Hưng Yên về để sử dụng đi lại nhưng ông chưa làm thủ tục thay đổi giấy chứng nhận đăng ký xe, ngày 28/12/2023 khi ông không ở nhà thì con ông là Quàng Văn Đ1 tự ý lấy chiếc xe máy đó đi và ông không biết bị cáo Đ1 đã sử dụng chiếc xe máy đó để thực hiện hành vi phạm tội, nay ông đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe máy đó cho ông để ông có phương tiện đi lại, làm ăn.
Do có hành vi nêu trên tại bản Cáo trạng số 199/CT-VKSTP, ngày 28/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố các bị cáo Tòng Văn Đ và Quàng Văn Đ1 về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quyền công tố tại phiên toà trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Tuyên bố các bị cáo Tòng Văn Đ, Quàng Văn Đ1 tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Tòng Văn Đ từ 18 đến 24 tháng tù.
- - Áp dụng điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
- - Xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ1 từ 20 đến 26 tháng tù.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Vật chứng vụ án: Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì công văn do công an thành phố S phát hành bên trong có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu ký hiệu Q = 0,29 gam.
- - Trả lại cho ông Quàng Văn H 01 xe máy nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 89H2 1070, xe đã cũ qua sử dụng.
Buộc các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, các bị cáo Tòng Văn Đ, Quàng Văn Đ1 nhận tội và không có ý kiến tranh luận gì với vị đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Các bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, qua xét hỏi các bị cáo Tòng Văn Đ và Quàng Văn Đ1 khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát thành phố S đã truy tố đối với các bị cáo. Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác mà Cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở pháp lý kết luận: Ngày 28/12/2023, Tòng Văn Đ và Quàng Văn Đ1 có hành vi tàng trữ 0,58 gam Methamphetamine với mục đích sử dụng thì bị phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi phạm tội của các bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ: Lời khai nhận tội của các bị cáo; Biên bản bắt người phạm tội quả tang cùng vật chứng thu giữ là 0,58 gam Methamphetamine; Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản mở niêm phong kiểm tra vật chứng và niêm phong lại; Kết luận giám định số 181/KL-KTHS, ngày 31/12/2023 của phòng K Công an tỉnh S; Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với kết luận điều tra.
Như vậy có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Tòng Văn Đ và Quàng Văn Đ1 đã phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 điều 249 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La truy tố và Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, khung hình phạt có mức hình phạt tù từ 01 năm đến 05 năm và thuộc trường hợp nghiêm trọng là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
[3] Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo Hội đồng xét xử thấy rằng: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ chính sách quản lý chất ma túy của Nhà nước. Các bị cáo nhận thức rõ tác hại của ma túy và hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Trong vụ án, các bị cáo đều là đồng phạm giản đơn, bị cáo Tòng Văn Đ là người khởi xướng, rủ rê Quàng Văn Đ1 thực hiện hành vi phạm tội, cả hai đều tích cực thực hiện hành vi phạm tội. Xét cần xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm trừng trị, giáo dục các bị cáo và nhằm răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên khi áp dụng hình phạt cần cân nhắc về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của từng bị cáo.
Về nhân thân: Bị cáo Tòng Văn Đ chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Quàng Văn Đ1 có 01 tiền án.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Tòng Văn Đ không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Quàng Văn Đ1 có 01 tiền án, tại bản án số 18/2022/HSST, ngày 26/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La đã xử phạt bị cáo 16 (Mười sáu) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, bị cáo chưa được xóa án tích lại tiếp tục phạm tội, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Tòng Văn Đ có ông Ngoại là Hà Văn P, có công lao trong cuộc kháng chiến chống Mỹ bảo vệ Tổ quốc, được tặng thưởng Huy chương kháng chiến hạng N1 và bị cáo Quàng Văn Đ1 có ông N2 là Cà Văn H1, là Liệt sỹ đã hy sinh trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo theo quy định tại khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự, do đó cần xem xét giảm nhẹ cho các bị cáo một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.
[4] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có việc làm, tài sản có giá trị, thu nhập không ổn định, việc áp dụng hình phạt bổ sung khó có khả năng thi hành, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án: Đối với 0,29 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ giám định, ký hiệu Đ; 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc, xét là vật Nhà nước cấm lưu hành và không có giá trị sử dụng, do đó cần tịch thu, tiêu hủy là phù hợp với quy định tại điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a, c khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 89H2 1070, xe đã cũ qua sử dụng. Xác định đây là tài sản của ông Quàng Văn H (bố đẻ của Quàng Văn Đ1), ông H đã mua chiếc xe máy này nhưng chưa làm thủ tục để cấp lại giấy đăng ký xe theo quy định, việc bị cáo Quàng Văn Đ1 sử dụng chiếc xe trên vào hành vi phạm tội ông H không biết, do vậy ông H không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo, cần trả lại chiếc xe máy trên cho ông H quản lý, sử dụng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[6] Đối với người đàn ông bán ma túy cho các bị cáo, do các bị cáo không biết rõ tên tuổi, địa chỉ. Ngoài lời khai của các bị cáo không còn chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án. Do đó, buộc các bị cáo phải chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma tuý bị thu giữ.
[7] Về án phí: Do hành vi phạm tội của mình nên cần buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Tòng Văn Đ tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Tòng Văn Đ (Hai mươi hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
Căn cứ điểm c khoản 1 điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51; điểm h khoản 1 điều 52; điều 17; điều 38; điều 58 Bộ luật Hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quàng Văn Đ1 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- - Xử phạt bị cáo Quàng Văn Đ1 24 (Hai mươi tư) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/12/2023.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 2 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, điểm b khoản 3 điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (Một) phong bì công văn do công an thành phố S phát hành còn nguyên niêm phong, mặt trước phong bì ghi: “Vật chứng lưu kho vụ Quàng Văn Đ1 và Tòng Văn Đ, tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 28/12/2023, bên trong gồm có 01 vỏ phong bì niêm phong ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy bạc; Mẫu lưu ký hiệu Đ = 0,29 gam".
- Trả lại cho ông Quàng Văn H 01 (Một) chiếc xe máy nhãn hiệu Dream, màu nâu, biển kiểm soát 89H2 1070, số khungh: không có; số máy LC150FMG 01866291, dây le không có, cánh yếm hai bên không có, xi nhan trái vỡ, yên xe rách, xe không có gương chiếu hậu, 01 chìa khóa xe, xe đã cũ qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/6/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố S, tỉnh Sơn La và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 và khoản 1 điều 21, điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Tòng Văn Đ, Quàng Văn Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000,đ (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: áp dụng điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 28/8/2024)./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Lê Lương Anh |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tòng Văn Đức + Quàng Văn Đức Tàng trữ trái phép chất ma túy
