Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ -TP ĐÀ NẴNG

Bản án số: 104/2023/HS-ST

Ngày: 27-12-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thanh Tuyền

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Văn Khánh

Ông Mai Văn Du

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Nguyên Khang - Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 103/2023/TLST-HS ngày 21 tháng 11 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2023/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 12 năm 2023 đối với bị cáo:

LÊ THỊ NHINH, sinh ngày 14/02/1978 tại Hải Dương. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai. Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 05/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Thiện K (chết) và bà Vĩ Thị N; có chồng là Phan Trung T và 02 con sinh năm 1998, 2000. Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Võ Kiều O - Sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Thôn B, xã C, huyện N, tỉnh Quảng Nam (Có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Trần Thị Hoàng D - Sinh năm: 1996. Nơi cư trú: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam (Vắng mặt).

Bà Phan Mỹ H - Sinh năm: 1998. Nơi cư trú: Tổ dân phố P, thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ 05 phút ngày 15/4/2023, Lê Thị N1 điều khiển xe môtô BKS 43C1-507.13 lưu thông trên đường T theo hướng cầu vượt N về cầu vượt H. Khi đến nơi giao nhau giữa đường T và C, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, N1 chuyển hướng sang trái để quay đầu xe về đường T theo hướng từ cầu vượt H về cầu N để vào đổ xăng. Trong lúc chuyển hướng, N1 điều khiển xe không chú ý quan sát phía sau bên trái, không bật xi nhan tín hiệu báo rẽ trái dẫn đến việc bà Võ Kiều O đang điều khiển xe mô tô BKS 92E1-281.01 chạy cùng chiều phía sau không xử lý kịp nên tông vào đuôi xe môtô BKS 43C1- 507.13 do N1 điều khiển. Hậu quả làm bà O và N1 bị thương tích, được người dân đưa đi cấp cứu.

Theo Kết luận giám định số 864/KL-KTHS ngày 12/5/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Kiều O tại thời điểm giám định là 65%.

Theo Kết luận giám định bổ sung số 1842/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Võ Kiều O tại thời điểm giám định bổ sung là 69%.

Đối với thương tích của Lê Thị N1, bị cáo đã có đơn từ chối giám định thương tích nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C không đề cập, giải quyết.

Từ những tình tiết nêu trên, tại Cáo trạng số 106/CT-VKSCL ngày 20/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ đã truy tố bị cáo Lê Thị N1 về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ thực hiện quyền công tố phát biểu quan điểm luận tội là vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo N1 mức hình phạt từ 12 tháng đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lê Thị N1 đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bà Võ Kiều O số tiền 100.000.000 đồng. Bà Võ Kiều O và gia đình đã nhận đầy đủ, không yêu cầu bồi thường gì thêm, có đơn xin bãi nại và xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho Lê Thị N1.

Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô BKS 43C1-507.13 là tài sản của bà Phan Mỹ H (con gái của Lê Thị N1) mua lại của bà Trần Thị Hoàng D nhưng chưa thực hiện thủ tục sang tên đổi chủ, sau đó H đưa cho N1 làm phương tiện đi lại, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại xe và giấy tờ liên quan cho bà H. Bà H tự nguyện sửa chữa, không yêu cầu gì.

Đối với xe môtô BKS 92E1-281.01 là tài sản của bà Võ Kiều O, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại xe và giấy tờ liên quan cho bà O. Bà O tự nguyện sửa chữa, không yêu cầu gì.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] của Lê Thị N1, đề nghị trả lại cho bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo N1 đã khai nhận hành vi như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ truy tố. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt. Bị cáo nói lời nói sau cùng là bị cáo xin lỗi bị hại, bị cáo vô cùng ăn năn hối cãi về hành vi của mình, mong HĐXX xem xét cho bị cáo mức án nhẹ nhất.

Tại phiên tòa, bị hại bà Võ Kiều O trình bày: Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, về vấn đề dân sự bà không yêu cầu bồi thường gì thêm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi bị truy tố, xét xử của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị N1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như quyết định truy tố của Viện kiểm sát, lời khai của bị cáo phù hợp với vật chứng thu hồi được cũng như phù hợp với các tài liệu, chứng cứ mà cơ quan điều tra đã thu thập được thể hiện tại hồ sơ vụ án, nên HĐXX có đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 14 giờ 05 phút ngày 15/4/2023, Lê Thị N1 điều khiển xe môtô BKS 43C1-507.13 lưu thông trên đường T theo hướng cầu vượt N về cầu vượt H. Khi đến nơi giao nhau giữa đường T và C, thuộc phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng, N1 chuyển hướng sang trái để quay đầu xe về đường T theo hướng từ cầu vượt H về cầu N, do không chú ý quan sát phía sau bên trái, không bật xi nhan tín hiệu báo rẽ trái, vi phạm quy định tại khoản 23 Điều 8 và khoản 2 Điều 15 Luật Giao thông đường bộ dẫn đến bà Võ Kiều O điều khiển xe mô tô BKS 92E1-281.01 chạy cùng chiều phía sau tông vào đuôi xe mô tô do bị cáo N1 điều khiển, gây hậu quả bà O bị thương tích với tỷ lệ 69% (Theo Kết luận giám định bổ sung số 1842/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phân viện Khoa học hình sự tại thành phố Đà Nẵng).

Do đó, hành vi này của bị cáo Lê Thị N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Vì vậy, Viện kiểm sát truy tố bị cáo N1 về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[3.1] Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự an toàn của hoạt động giao thông đường bộ và sự an toàn về tính mạng, sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, do đó cần phải xử lý nghiêm. Mặc dù tai nạn xảy ra là không ai mong muốn nhưng nếu bị cáo có ý thức chấp hành đúng luật giao thông đường bộ thì đã không xảy ra hậu quả làm bị hại bị tổn hại về sức khỏe. Do đó, HĐXX xét thấy cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi, phù hợp với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo nói riêng và góp phần răn đe, đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung.

[3.2] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[3.3] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Khi tai nạn xảy ra, bị cáo đã bồi thường cho bị hại. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình cho bị cáo N1.

[3.4] Căn cứ tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và về nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo N1 có nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, không có tiết tăng nặng trách nhiệm sự. Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, trong vụ tai nạn, bản thân bị cáo cũng bị thương tích gãy xương đùi trên chân trái nên cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng cho bị cáo N1 và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao cho bị cáo N1 được hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người tốt và cũng góp phần răn đe phòng ngừa chung. Đồng thời, cũng thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Lê Thị N1 đã bồi thường chi phí điều trị thương tích cho bà Võ Kiều O số tiền 100.000.000 đồng. Bà Võ Kiều O đã nhận đầy đủ. Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên HĐXX không xem xét.

[5] Về xử lý vật chứng:

Đối với xe mô tô BKS 43C1-507.13 là tài sản của bà Phan Mỹ H (con gái của Lê Thị N1) mua lại của bà Trần Thị Hoàng D nhưng chưa làm thủ tục sang tên đổi chủ, bà H đưa cho bị cáo N1 làm phương tiện đi lại, không biết việc Nhinh gây tai nạn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại xe và giấy tờ liên quan cho bà H. Bà H không yêu cầu gì, nên HĐXX không xem xét.

Đối với xe môtô BKS 92E1-281.01 là tài sản của bà Võ Kiều O đứng tên sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận C đã trả lại xe và giấy tờ liên quan cho bà O. Bà O không yêu cầu gì, nên HĐXX không xem xét.

Đối với 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 29/9/2016 cho Lê Thị N1, không có liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo N1.

[6] Về án phí: Bị cáo Lê Thị N1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ: Điểm b khoản 1 Điều 260; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 Bộ luật Hình sự;

    Tuyên bố bị cáo Lê Thị N1 phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

    Xử phạt: bị cáo Lê Thị N1 09 (Chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/12/2023).

    Giao bị cáo Lê Thi N2 cho Ủy ban nhân dân thị trấn K, huyện K, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

    Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

    T1:

    Trả lại cho bị cáo Lê Thị N1 01 giấy phép lái xe hạng A1 số [...] do Sở Giao thông vận tải tỉnh G cấp ngày 29/9/2016.

    (Vật chứng nêu trên hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ theo Quyết định chuyển vật chứng vụ án số 61/QĐ-VKSCL ngày 20/11/2023; Biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/11/2023)

  3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

    Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Lê Thị N1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).

  4. Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - VKSND tp. Đà Nẵng;
  • - Cơ quan CSĐT quận Cẩm Lệ;
  • - Cơ quan THAHS CA quận Cẩm Lệ;
  • - Chi cục THADS quận Cẩm Lệ;
  • - Sở tư pháp tp. Đà Nẵng;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Thị Thanh Tuyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 27/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 104/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị N phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger