Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÀU BÀNG

TỈNH BÌNH DƯƠNG

Bản án số: 104/2023/HS-ST

Ngày: 27-10-2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Anh Duy.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Độ;

Ông Nguyễn Long Giang;

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Giang - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 10 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 18/2023/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2023/QĐXXST–HS ngày 17 tháng 5 năm 2023, Quyết định hoãn phiên tòa số 42/2023/HSST-QĐ ngày 30 tháng 5 năm 2023 và Thông báo mở lại phiên tòa số 04/2023/TB-TA ngày 13 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Nguyễn Đình D, sinh năm 2002 tại Hà Tĩnh. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn Đ, xã H, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: không; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị D1; tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giữ từ ngày 11/9/2022 và tạm giam cho đến nay; có mặt.

Bị hại: Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm 1990; địa chỉ: ấp A, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt, có đơn xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Đình D là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định. Khoảng tháng 05/2022 D thông qua mạng xã hội tìm việc làm và có quen biết một đối tượng tên S không rõ nhân thân lai lịch. S rủ D vào Thành phố Hồ Chí Minh để làm căn cước công dân giả rồi đem đi cầm cố tại các tiệm cầm đồ để chiếm đoạt tài sản. Ngày 06/9/2022, D đến Thành phố Hồ Chí Minh tìm gặp S, tại đây D cung cấp cho S ảnh chân dung của mình và vân tay để S làm một bộ căn cước công dân giả. Ngày 11/9/2022, S đưa cho D 01 căn cước công dân số [...] mang tên “Trần Minh K, sinh ngày 17/8/1997; hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh”, hình ảnh trên căn cước là hình của Nguyễn Đình D. Sau đó S chở D bằng xe mô tô Honda Airblade biển số 38L1-370.74 đi các tiệm cầm đồ thuộc địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và Bình Dương để cầm căn cước công dân và giấy đăng ký xe của xe mô tô biển số 38L1-370.74. Khi chủ tiệm cầm đồ đối chiếu hình ảnh trên căn cước công dân và đăng ký xe mô tô cùng chủ sẽ tin tưởng giao tiền sau đó các đối tượng bỏ đi.

Cùng với phương thức thủ đoạn trên khoảng 14 giờ 30 phút ngày 11/9/2022, S chở D đến khu vực thuộc ấp C, xã H, huyện B, tỉnh Bình Dương các đối tượng thấy tiệm cần đồ Trung Cường P nên S đưa cho D 01 giấy đăng ký mô tô biển số 38L1-370.74 tên chủ xe Trần Minh K, sinh ngày 17/8/1997; hộ khẩu thường trú: thôn T, huyện T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do Phòng C1 Công an tỉnh H cấp ngày 03/11/2017, 01 xe mô tô biển số 38L1-370.74 và 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Minh K. Sau đó S nói D vào tiệm cầm đồ Trung Cường P để cầm xe mô tô trên. D điều khiển xe mô tô biển số 38L1-370.74 vào tiệm cầm đồ để cầm căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký mô tô. D đưa cho ông Nguyễn Mạnh C là chủ tiệm cầm đồ kiểm tra, ông C thấy thông tin trùng khớp nên đồng ý cầm cố với giá 3.000.000 đồng. Sau khi viết biên lai cầm đồ ông C kiểm tra lại một lần nữa căn cước công dân mang tên Trần Minh K thì nghi ngờ đây là giấy tờ giả nên đã trình báo Công an xã H và D đã thừa nhận đây là giấy tờ giả. Đối với đối tượng tên S đã bỏ trốn.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do Cục C2 cấp ngày 09/7/2021;
  • 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 164974 tên chủ xe Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do phòng CSGT Công an tỉnh H cấp ngày 03/11/2017;
  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn biển số 38L1-370.74 có số khung RLHJF6304FZ442480 số máy JF63E1442530;

Ngày 13/9/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 158/QĐ-ĐTTH trưng cầu Phòng K3 Công an tỉnh B giám định: 01 căn cước công dân số [...] mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do Cục C2 cấp ngày 09/7/2021 (ký hiệu A); 01 giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 164974 tên chủ xe Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997 hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do phòng CSGT Công an tỉnh H cấp ngày 03/11/2017 (ký hiệu A2) là thật hay giả.

Ngày 20/9/2022, Phòng K3 Công an tỉnh B ra kết luận giám định số 407/KL-KTHS kết luận: Tài liệu giám định mang tên: “Trần Minh K, sinh năm 1997, hộ khẩu thường trú: thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh” trên: 01 (một) “Căn cước công dân số [...] đề ngày 09/7/2021” (ký hiệu A) là giả. 01 (một) “Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy số 164974 đề ngày 03/11/2017” (ký hiệu A2) là giả.

Ngày 10/10/2022, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã ra văn bản số 575/CV-ĐTTH gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L, tỉnh Hà Tĩnh hỗ trợ xác minh tại địa phương có đối tượng tên Nguyễn Minh K1 hay không. Tại biên bản xác minh tại địa phương xác định: Địa phương không có người tên Trần Minh K, sinh ngày 17/8/1997 như thông tin trong căn cước công dân và giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy thu giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Airblade gắn biển số 38L1-370.74 có số khung RLHJF6304FZ442480, số máy JF63E1442530 mà Nguyễn Đình D sử dụng. Nguyễn Đình D không biết xe mô tô này ở đâu mà có, D chỉ biết xe này là do S điều khiển và chở D sau đó yêu cầu D mang đi cầm cố. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã tra cứu biển số xe 38L1-370.74 trong hệ thống dữ liệu đăng ký cho ra kết quả: Không tìm thấy dữ liệu theo biển số xe 38L1-370.74. Tại phiếu trả lời xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ tra cứu theo số khung RLHJF6304FZ442480, số máy JF63E1442530 xác định xe mô tô có biển số 66H1-224.43 chủ sở hữu xe mô tô này là bà Lê Thị Thu T1, sinh năm 1969; hộ khẩu thường trú: khóm B, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp. Qua làm việc bà T1 khai nhận xe mô tô biển số 66H1-224.43 là do bà đăng ký đứng tên chủ sở hữu nhưng đã giao xe cho con trai là ông Lê Anh K2, sinh năm 1996; hộ khẩu thường trú: khóm B, phường A, thị xã H, tỉnh Đồng Tháp sử dụng. Quá trình sử dụng ông K2 đã bị mất xe tại khu vực phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và có trình báo tại Công an phường P. Quá trình xác minh tại phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh xác nhận có sự việc ông K2 trình báo mất 01 xe mô tô biển số 66H1-224.43, Công an phường P đã làm hồ sơ và chuyển Công an quận T tiếp nhận theo thẩm quyền. Hiện đã rõ chủ sở hữu nên Cơ quan điều tra Công an huyện B đã tiến hành trao trả xe mô tô trên cho bà T1. Bà T1 nhận lại tài sản và không có ý kiến gì khác.

Đối với đối tượng tên S là người đi cùng Nguyễn Đình D và làm giấy tờ giả cho D hiện đã bỏ trốn Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B vẫn tiến hành điều tra xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Cáo trạng số 31/CT–VKSBB ngày 17/3/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo Nguyễn Đình D về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng trong phần tranh luận, rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ 02 tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, các phần khác vẫn giữ nguyên. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên:

- Về hình phạt:

+ Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 02 (hai) năm tù đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 174; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo mức hình phạt từ 08 (tám) tháng tù đến 10 (mười) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo chấp hành mức hình phạt chung từ 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù đến 03 (ba) năm 04 (bốn) tháng tù.

- Về trách nhiệm dân sự: Không đề nghị giải quyết.

- Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do Cục C2 cấp ngày 09/7/2021, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 164974 mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do phòng CSGT Công an tỉnh H cấp ngày 03/11/2017, 01 (một) Biển số xe mô tô 38L1-370.74 là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng qua phần tranh luận vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và nội dung luận tội.

Tại phiên tòa, bị cáo thống nhất toàn bộ nội dung truy tố, luận tội và không có ý kiến tranh luận.

Trong lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối hận và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng với quy định của pháp luật.

[2] Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hanh vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, biên bản hỏi cung bị can cùng những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Thông qua mạng xã hội bị cáo có quen biết với một đối tượng tên S làm giấy tờ giả. Bị cáo cung cấp cho S hình ảnh và dấu vân tay của mình để S làm 01 căn cước công dân và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô giả để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Ngày 11/9/2022, S chở bị cáo đi đến khu vực xã H, huyện B tỉnh Bình Dương, giao cho bị cáo 01 xe mô tô biển số 38L1-370.74 và 01 bộ giấy tờ gồm 01 căn cước công dân và 01 giấy chứng nhận xe mô tô mang tên Trần Minh K giả để cầm cố tại tiệm cầm đồ Trung Cường P cho bị hại chiếm đoạt số tiền 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Do đó, hành vi mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Bị cáo đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng rút một phần quyết định truy tố bị cáo từ 02 tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Như đã nhận định, hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm d khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và không làm thay đổi điều khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy căn cứ Điều 298 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 Hội đồng xét xử vẫn xét xử vụ án. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của nhà nước và quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ; gây mất trật tự, trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Về nhận thức, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo đã bất chấp sự trừng phạt của pháp luật, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Do đó, để có tác dụng giáo dục bị cáo đồng thời nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm chung, cần có mức hình phạt, tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất mức độ phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, xét mức hình phạt mà Đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[7] Về biện pháp tư pháp: Đối với 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do Cục C2 cấp ngày 09/7/2021, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 164974 mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do phòng CSGT Công an tỉnh H cấp ngày 03/11/2017, 01 (một) Biển số xe mô tô 38L1-370.74 là công cụ, phương tiện thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

[8] Đối với đối tượng tên S là người đi cùng bị cáo và có hành vi làm giấy tờ giả hiện đã bỏ trốn nên đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bàu Bàng tiếp tục điều tra xác minh khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

[9] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 Điều 174; điểm d khoản 2 Điều 341; điểm h, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 55 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung 2017;

Các Điều 106, Điều 136, Điều 260, Điều 298, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về trách nhiệm hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình D phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

2. Về hình phạt:

2.1. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 02 (hai) năm tù về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

2.2. Xử phạt bị cáo Nguyễn Đình D 08 (tám) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tổng hợp hình phạt của 02 tội, buộc bị cáo Nguyễn Đình D chấp hành hình phạt chung là 02 (hai) năm 08 (tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 11/9/2022.

3. Về biện pháp tư pháp: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) Căn cước công dân số [...] mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do Cục C2 cấp ngày 09/7/2021, 01 (một) Giấy chứng nhận đăng ký mô tô, xe máy số 164974 mang tên Trần Minh K sinh ngày 17/8/1997, HKTT: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh do phòng CSGT Công an tỉnh H cấp ngày 03/11/2017, 01 (một) Biển số xe mô tô 38L1-370.74.

(Thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/5/2023 giữa Viện kiểm sát nhân dân huyện Bàu Bàng – Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bàu Bàng).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Đình D phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết công khai.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Công an tỉnh Bình Dương;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND huyện Bàu Bàng;
  • - Công an huyện Bàu Bàng;
  • - Chi cục THADS huyện Bàu Bàng;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án (nếu có);
  • - Lưu: HS, Tòa.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Văn Hòa

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Anh Duy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 27/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG về sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 104/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÀU BÀNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sử dụng tài liệu giả của cơ quan tổ chức + Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger