TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, TP. HÀ NỘI Bản án số:104/2023/HS-ST Ngày 26/12/2023 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Cường
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Huy Tưởng và ông Lê Mạnh Nhanh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Quang - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Duy Luân - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Tòa án nhân dân huyện Mỹ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 101/2023/HSST ngày 23 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:112/2023/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 12 năm 2023, đối với bị cáo:
- Họ và tên: LƯƠNG XUÂN CHIẾN, sinh năm 1995; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn K, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Lương Văn T và bà Đinh Thị L; vợ Phùng Thị M (đã ly hôn); con có 02 con, con lớn sinh năm 2016, con nhỏ sinh năm 2018: Chưa: tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 200 lập ngày 19/6/2023 tại Công an huyện M.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên toà.
- Họ và Tên: HÀ CÔNG HỌC, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mường; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Hà Công T1 và bà Hà Thị H; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 199 lập ngày 19/6/2023 tại Công an huyện M.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên toà.
- Họ và Tên: LÂM TĂNG TRƯỜNG, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn T, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 09/12; Con ông Lâm Tăng T2 và bà Trần Thị T3; Vợ, con: Chưa;
tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 202 lập ngày 19/6/2023 tại Công an huyện M.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên toà.
- Họ và Tên: ĐỖ MINH QUANG, sinh năm 2003; Giới tính: Nam; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn L, xã Đ, huyện C, thành phố Hà Nội; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Đảng phái: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 10/12; Con ông Đỗ Văn Đ và bà Nguyễn Thu T4; Vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: không; danh chỉ bản số 201 lập ngày 19/6/2023 tại Công an huyện M.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 06/6/2023 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H, có mặt tại phiên toà.
- Người bào chữa cho bị cáo Hà Công H1 là: Ông Nguyễn Ngọc C – Trợ giúp viên pháp lý chi nhánh số 7 thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước thành phố H, Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ :
- Công ty T10.
- Anh Hoàng Đăng S, sinh năm 1999, Vắng mặt.
- Anh Dư Công Đ2, sinh năm 1998, Vắng mặt.
Trụ sở: Lầu 8, 9, 10 Tòa nhà G, số B đường P, phường F, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Hữu N – Tổng giám đốc
Công ty T10 – Chi nhánh H5.
Địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà V, số E K, phường N, quận B, thành phố Hà Nội.
Đại diện Ông Nguyễn Đình Đ1 – Phó Tổng giám đốc.
Đại diện theo uỷ quyền ông Đào Văn L1 – Chuyên viên pháp lý tố tụng công ty, Vắng mặt có đơn xin xét xử vắng mặt.
Trú tại: số F Dốc B, C, H, Hà Nội.
Trú tại: tổ dân phố G, thị trấn C, huyện C, Hà Nội.
Trú tại: thôn H, xã Đ, huyện M, thành phố Hà Nội.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 10 giờ ngày 06/6/2023 Công an xã P tiến hành kiểm tra hành chính tại nhà ở của ông Nguyễn Văn P thuộc thôn C, xã P, huyện M do Lương Xuân C1, sinh năm 1995, trú tại thôn K, xã T, huyện C (chưa khai báo lưu trú, tạm trú) thuê trọ để ở cùng các đối tượng gồm: Lâm Tăng T5, sinh năm 2003, trú tại: Thôn K, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Hà Công H1, sinh năm 2003, trú tại: Xóm B, xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình; Lương Xuân C1, Sinh năm: 1995, trú tại: Thôn K, xã T, huyện C, TP Hà Nội; Đỗ Minh Q, sinh năm 2003, trú tại: Thôn L, xã Đ, huyện C, TP Hà Nội và
Đinh Thị D, sinh năm 2004, trú tại: Bản N, xã G, huyện P, tỉnh Sơn La.
Quá trình kiểm tra phát hiện, bắt quả tang và thu giữ tại túi quần trước bên phải của Lâm Tăng T5 đang mặc có 01 túi nilon màu trắng, bên trong chứa tinh thể màu trắng, T5 khai nhận đó là ma túy “Ke” do T5 xin của Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã T, huyện C, TP Hà Nội để T5 và Hà Công H1 sử dụng vào sáng ngày 06/6/2023. Do sử dụng không hết nên T5 để phần còn lại vào túi quần để sử dụng sau. Việc T5 giấu ma túy H1 không biết. Lực lượng Công an tiến hành thu giữ, niêm phong tang vật là tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (mẫu số 01) và đưa T5 cùng Hà Công H1, Đỗ Minh Q, Lương Xuân C1, Đinh Thị D về trụ sở làm việc.
Cùng ngày 06/6/2023 Cơ quan điều tra tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ thuê trọ đã nêu trên của các đối tượng và thu giữ các vật chứng gồm:
- Thu giữ tại mặt giường trong phòng ngủ của Đỗ Minh Q: 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng. Q và D khai nhận đây là dụng cụ Q và D dùng để sử dụng ma túy.
- Thu giữ tại mặt đệm trong giường ngủ của Lâm Tăng T5 và Hà Công H1: 01 tờ tiền 2.000 đồng và 01 tẩu hút tự tạo bằng tờ 10.000 đồng đều dính tinh thể màu trắng bản thân T5 và H1 khai nhận đó là dụng cụ T5 và H1 dùng để sử dụng ma túy.
- Thu giữ tại tủ gỗ của Nguyễn Văn H2 ở tầng một (theo lời khai của các bị can): 01 túi nilon, bên trong chứa 10 viên nén màu xanh, 01 túi nilon bên trong có chứa 30 viên nén màu xám, 03 túi nilon đều chứa tinh thể màu trắng.
- Thu giữ tại nền nhà phòng khách cạnh tủ gỗ tầng 1: 01 cân điện tử màu đen các bị can khai của Nguyễn Văn H2 dùng để chia ma túy.
Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu bạc, IMEI 1:357447884845209, IMEI 2: 357447884715139 số thuê bao: 0348686139 và 01 (một) xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng, BKS: 29X1 – 86131, số khung: RLHJA 3924NY532870, số máy: JA39E002874 của Lương Xuân C1.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, vỏ màu trắng, số IMEI 1: 353905106553996, số IMEI2: 353905106382602 số thuê bao: 0337694321 của Lâm Tăng T5.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu ghi, số IMEI 1: 354446066445252, số thuê bao: 0987025810 của Hà Công H1.
Ngày 06/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra người đối với Lương Xuân C1, Hà Công H1 và Đỗ Minh Q, kết quả không thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Ngày 06/6/2023, Cơ quan điều tra ra Quyết định trưng cầu giám định số 118/QĐ-CSĐT, trưng cầu Phòng K - Công an thành phố H, giám định vật chứng thu giữ của Lâm Tăng T5; Thu giữ tại trong tủ gỗ tầng 1, phòng khách; Thu giữ tại phòng ngủ của Lâm Tăng T5 và Hà Công H1; Thu giữ tại phòng ngủ của Đỗ Minh Q tại nhà trọ của Lương Xuân C1 có phải ma túy không? khối lượng? loại gì? Và
tinh thể, tờ tiền các bị can có bám dính chất ma túy hay không?
Tại Kết luận giám định số 3847/KL-KTHS ngày 15/6/2023 của Phòng K Công an thành phố H, kết luận:
“- Tinh thể màu trắng bên trong 01 túi nilon (mẫu số 01) là ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,146 gam.”
“- Tang vật trong niêm phong (mẫu số 02) gồm:
+ 10 viên nén màu xanh đều là loại ma túy MDMA, tổng khối lượng 3,323 gam.
+ 30 viên nén màu xám đều là ma túy loại MDMA, tổng khối lượng 11,914 gam.
+ Tinh thể màu trắng bên trong 03 túi nilon đều là ma túy loại Ketamine, tổng khối lượng 17,644 gam.
- 01 cân điện tử màu đen (mẫu số 03) có dính ma túy loại Ketamine.
- 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000VNĐ và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000VNĐ (mẫu số 04) đều có dính ma túy loại Ketamine.
- 01 tờ tiền mệnh giá 1.000VNĐ và 01 tờ mệnh giá 2.000VNĐ (mẫu số 05) đều có dính ma túy loại Ketamine”.
Ngày 07/6/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M tiến hành xét nghiệm ma túy trong nước tiểu đối với Lâm Tăng T5, Hà Công H1, Đỗ Minh Q và Đinh Thị D: đều cho kết quả dương tính với ma túy.
Ngày 06/6/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện M tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp lần lượt đối với Lương Xuân C1, Hà Công H1 và Đỗ Minh Q.
* Quá trình điều tra làm rõ như sau:
Vào khoảng tháng 5 năm 2023 Lương Xuân C1 thuê nhà của anh Nguyễn Văn P tại thôn C, xã P, huyện M để ở trọ. Sau khi thuê được phòng trọ, C1 cho Nguyễn Văn H2 ở cùng và C1 thuê Hà Công H1 đến ở cùng C1 để đi bán ma tuý cho C1. Sau khi H2 đến ở thì H2 rủ thêm Lâm Tăng T5 và Đỗ Minh Q đến ở cùng H2 để thuận tiện cho việc H2 chỉ đạo các đối tượng đi bán ma tuý cho H2. Quá trình ở thì Đỗ Minh Q rủ thêm bạn gái là Đinh Thị D đến ở cùng với Q. Sau đó các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội vào ngày 06/6/2023 được Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M phát hiện và điều tra cụ thể như sau:
Tại phòng ngủ Lâm Tăng T5.
Khoảng 08 giờ sáng ngày 06/6/2023, Lâm Tăng T5 thống nhất với Hà Công H1 là xin ma tuý của Nguyễn Văn H2 để cả hai cùng sử dụng, sau đó T5 gặp H2 xin được một gói ma túy “Ke”, T5 chia ma túy thành hai gói nhỏ, một gói Trường cất giấu tại túi quần đang mặc, mục đích để sử dụng riêng H1 không biết; còn lại 01 gói T5 mang vào phòng ngủ đưa cho H1. H1 dùng tờ tiền 2.000 đồng xào ma túy, dùng tờ tiền 10.000 đồng để cuộn làm ống hút rồi H1 và T5 cùng tổ chức cho nhau sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trong túi quần T5 đang mặc 01 gói nhỏ ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,146 gam và thu giữ tại mặt đệm trong giường ngủ của Lâm Tăng T5 và Hà Công
tinh thể màu trắng, T5 khai nhận đó là ma túy “ke” của T5 do T5 xin của Nguyễn Văn H2 sử dụng nhưng vẫn còn T5 để lại để sử dụng cho bản thân.
Lâm Tăng T5 còn khai nhận: Từ khi đến ở cùng với Nguyễn Văn H2 tại nơi thuê trọ ở thôn C, xã P, huyện M, T5 đã nhiều lần đi giao ma tuý cho H2, các lần đi giao ma tuý, T5 không biết khách mua ma tuý là ai, tiền mua ma tuý khách chuyển khoản trực tiếp cho H2, các lần H2 đưa ma tuý cho T5 đi giao, H2 đều lấy ma tuý từ tủ gỗ ở tầng một nhà trọ. Sau những lần đi giao ma túy T5 được H2 cho tiền và ma tuý để sử dụng. Ngoài ra, bản thân T5 đã 2 lần mua ma tuý của H2, mỗi lần T5 mua 600.000₫ ma tuý “Ke” sau đó mang bán cho người có tên fakebook là “Mưa Trong Lòng” mỗi lần bán ma tuý, thu được số tiền là 1.000.000đ. T5 không nhớ thời gian và không biết họ tên, địa chỉ của người có tài khoản Facebook nêu trên.
Tại phòng ngủ của Đỗ Minh Q.
Bản thân Đỗ Minh Q có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 08 giờ sáng ngày 06/6/2023 Q có gặp H2 tại nhà trọ và xin H2 ma túy “ke” để sử dụng, H2 đồng ý và đưa cho Q ma túy “ke”. Q cầm ma túy đó mang về phòng ngủ của mình rồi dùng tờ tiền 2.000 đồng để xào và 1.000 đồng cuốn làm ống hút để sử dụng ma tuý, cùng lúc đó có bạn gái của Q là Đinh Thị D đang ở cùng nên Q cho D cùng sử dụng hết số ma túy đã nêu.
Đỗ Minh Q còn khai nhận: Từ khi đến ở cùng với Nguyễn Văn H2, Q đã nhiều lần đi bán ma tuý cho H2 khi H2 có khách hỏi mua, lần gần nhất H2 đưa ma tuý cho Q đi giao cho khách vào khoảng tối ngày 05/6/2023 ở khu vực xã P. Các lần Q đi giao ma tuý cho khách, Q không biết khách mua ma tuý là ai, tiền ma tuý khách đều chuyển khoản cho H2, các lần H2 đưa ma tuý cho Q đi giao cho khách đều lấy ma tuý từ tủ gỗ của H2 ở tầng một nơi trọ. Sau những lần đi giao ma tuý cho khách, Q được H2 cho tiền và ma tuý để sử dụng.
Ngoài hành vi trên, Hà Công H1, Lương Xuân C1 khai nhận cùng nhau thực hiện các hành vi mua bán ma túy đã được Cơ quan điều tra Công an huyện M, làm rõ như sau:
- Ngày 02/06/2023, Dư Công Đ2, sinh năm: 1998, trú tại: thôn H, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội gọi điện thoại cho Lương Xuân C1 qua ứng dụng messenger để hỏi mua nửa chỉ ma tuý “Ke” và 01 viên ma tuý “Kẹo” của C1, C1 đồng ý và thoả thuận với Đ2 số tiền mua ma tuý là 1.000.000đ. Sau đó C1 gọi điện thoại cho Hà Công H1 gặp H2 để lấy ma tuý mang giao cho Đ2. Học gặp H2 tại nhà trọ, H2 đưa cho H1 01 viên ma tuý “Kẹo” và nửa chỉ ma tuý “Ke”, H1 cầm số ma tuý trên mang đi giao cho Đ2, Đ2 đã chuyển khoản số tiền là 1.000.000đ vào tài khoản ngân hàng M2 của Lương Xuân C1.
- Ngày 03/06/2023, Dư Công Đ2 tiếp tục gọi điện thoại cho C1 đặt vấn đề mua của C1 02 viên ma tuý “Kẹo” với số tiền 500.000đ, C1 đồng ý và gọi điện cho H1 gặp H2 ở phòng trọ lấy ma tuý mang đi giao cho Đ2, Đ2 đã chuyển khoản số tiền là 500.000đ vào tài khoản ngân hàng của Lương Xuân C1.
- Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 30/05/2023, Nguyễn Trọng H3, sinh năm: 2000, trú tại: thôn K, xã A, huyện M, TP Hà Nội gọi điện thoại cho Lương Xuân C1 qua ứng dụng messenger để hỏi mua 01 chỉ ma tuý “Ke” và 01 viên ma tuý “kẹo” với số tiền là 1.750.000đ, C1 đồng ý và chỉ đạo H1 đến gặp H2 để lấy ma tuý mang đi giao cho H3 tại khu vực thôn P, xã P, huyện C, TP Hà Nội để T5 và Hà Công H1 sử dụng vào sáng ngày 06/6/2023. Đến khoảng tháng 5/2023 S đã cho Lương Xuân C1 mượn đi lại, khi S cho C1 mượn chiếc xe chưa có biển kiểm soát. Tra cứu chiếc xe trên không nằm trong dữ liệu vật chứng của vụ án khác. Anh Đào Văn L1 đại điện cho Công ty T10 có quan điểm được xin lại chiếc xe máy trên.
Sau đó, H3 gọi điện thoại cho Bùi Thị T6, sinh năm: 1991, trú tại: thôn H, xã Đ, huyện M, TP Hà Nội (là bạn của H3) để nhờ T6 chuyển số tiền 1.200.000đ vào tài khoản cho C1. Sau khi mua được ma túy trái phép chất ma túy của C1, T5, Q nên chưa căn cứ xử lý trong vụ án này. Các hành vi trên của C1, T5, Q, Cơ quan điều tra Công an huyện M đã tách cùng với ra cùng với hành vi của Nguyễn Văn H2, khi nào bắt được H2 sẽ điều tra xử lý sau.
Ngày 07/6/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện M triệu tập Dư Công Đ2 đến làm việc, Đ2 khai nhận phù hợp với lời khai của C1 và H1. Đ2 khai mục đích mua ma tuý để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra tạm giữ của Đ2 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu xanh, IMEI 1: 357447884845209, IMEI 2: 357447884715139. Bên trong lắp sim số 0975456726, Kiểm tra điện thoại của Đ2 không có bất kỳ cuộc gọi, tin nhắn nào.
Ngày 31/8/2023 Cơ quan điều tra Công an huyện M triệu tập Nguyễn Trọng H3 đến làm việc, H3 khai nhận phù hợp với lời khai của C1 và H1. H3 khai mục đích mua ma tuý để sử dụng và đã sử dụng hết.
Ngày 12/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Lâm Tăng T5, Hà Công H1, Lương Xuân C1 và Đỗ Minh Q nhận dạng qua bản ảnh, kết quả T5, H1, C1 và Q đều nhận dạng cùng một đối tượng là Nguyễn Văn H2, sinh năm 1998, trú tại thôn H, xã T, huyện C, đối chiếu với Lý lịch cá nhân và Lý lịch bị can của Nguyễn Văn H2 xác nhận cùng một người. Các bị can đều nhận H2 là người đã cho ma túy để các bị can sử dụng và nhiều lần H2 đưa ma túy cho các bị can đi bán.
Ngày 07/6/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Dư Công Đ2 nhận dạng qua bản ảnh, Đ2 nhận dạng được Hà Công H1 là người đã giao ma túy cho Đ2. Lương Xuân C1 là người mà Đ2 đã giao dịch hỏi mua ma túy và được Đ2 chuyển tiền mua ma túy vào tài khoản của Lương Xuân C1.
Ngày 31/8/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho Nguyễn Trọng H3 nhận dạng qua bản ảnh, H3 nhận dạng được Lương Xuân C1 là người mà H3 đã giao dịch hỏi mua ma túy ngày 30/5/2023.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại ngày 06/6/2023 đối với điện thoại nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu ghi, số IMEI: 354446066445252, bên trong có sim số 0987025810 thu giữ của Hà Công H1, kết quả: chỉ lưu giữ nhật ký từ 18h45 phút ngày 05/6/2023 đến 08h43 phút ngày 06/6/2023.
Cơ quan điều tra tiến hành kiểm tra điện thoại ngày 06/6/2023 đối với điện thoại nhãn hiệu Iphone 13 Pro max, vỏ màu bạc, số IMEI 1:357447884845209, IMEI 2: 357447884715139 số thuê bao: 0348686139 thu giữ của Lương Xuân C1, kết quả: chỉ lưu giữ nhật ký từ ngày 05/6/2023 đến đến ngày 06/6/2023.
Ngày 30/6/2023, Tập đoàn C3 có Công văn số 4672/CNVTQD-TTKT phúc
đáp Lệnh thu giữ điện tín số 22/LTG-CSDT ngày 14/6/2023 của Cơ quan điều tra Công an huyện M, kết quả: chủ thuê bao số 0337694321 là Lâm Tăng T5; chủ thuê bao số 0348686139 là Lê Thị Minh T7, sinh ngày 30/9/2000, trú tại thôn E, H, Q, Quảng Ninh. T7 khai có đăng ký số thuê bao trên nhưng sau đó cho bạn trai là Lương Xuân C1 để sử dụng khoảng hơn một năm đến nay, T7 không biết C1 liên quan gì đến ma túy.
Quá trình điều tra Lương Xuân C1 khai Nguyễn Văn H2 sử dụng số điện thoại 0383.370.xxx. Qua xác minh xác định chủ đăng ký số điện thoại này là là Phan Văn Đ3, sinh ngày 12/01/2000, địa chỉ: P, Bản L, M, Lào Cai. Anh Đ3 khai không biết Nguyễn Văn H2 và không đăng ký sử dụng số thuê bao trên.
Chủ thuê bao đăng ký số 0975456726 là Dư Công Đ2. Chủ thê bao đăng ký số 0987025810 là Đỗ Năng T8, sinh ngày 26/8/1987, địa chỉ: N, C, Hà Nội. Anh T8 khai không sử dụng hay đăng ký sở hữu sim số như trên và không quen biết Hà Công H1.
Ngày 14/6/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện M có Công văn số 240/QĐ-CSĐT yêu cầu ngân hàng M3 cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng và sao kê chi tiết tài khoản 686868139 và số tài khoản 888839898 từ ngày 25/5/2022 đến ngày 06/6/2023.
Ngân hàng M3 có Công văn số 249/MB-GLM ngày 22/6/2023 và Công văn số 5267/MB-HS ngày 04/7/2023 cung cấp thông tin: số tài khoản 686868139 là của Lương Xuân C1, số tài khoản 888839898 là của Dư Công Đ2. Trong ngày 02/6/2023, 03/6/2023 số tài khoản 686868139 có nhận số tiền 1.000.000 đồng và 500.000 đồng từ số tài khoản 888839898 với nội dung “DU CONG DUC chuyen khoan”, phù hợp với lời khai của Dư Công Đ2 và Lương Xuân C1. Ngoài ra trong lịch sử giao dịch số tài khoản 686868139 của Lương Xuân C1 đã nhận được số tiền 1.200.000đ từ số tài khoản 999989686 của Bùi Thị T6 chuyển đến trong ngày 31/5/2023 với nội dung “BUI THỊ THU chuyen khoan", phù hợp với lời khai của Nguyễn Trọng H3, Lương Xuân C1 và Bùi Thị T6.
Đối với chiếc xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng, BKS: 29X1 – 86131 thu giữ của Lương Xuân C1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh, xác định được chiếc xe máy có số khung: RLHJA 3924NY532870, số máy: JA39E002874 chưa được cấp biển kiểm soát. Chủ sở hữu là Hoàng Đăng S, sinh năm: 1999, trú tại: TDP G, TT C, huyện C, TP Hà Nội. Anh S khai nhận đã mua chiếc xe trên tại cửa hàng Honda Minh T9 có địa chỉ tại quận H, TP Hà Nội bằng hình thức vay tiền theo hợp đồng tín dụng và thế chấp chiếc xe máy trên cho Công ty T10 từ tháng 2/2023. Đến khoảng tháng 5/2023 S đã cho Lương Xuân C1 mượn đi lại, khi S cho C1 mượn chiếc xe chưa có biển kiểm soát. Tra cứu chiếc xe trên không nằm trong dữ liệu vật chứng của vụ án khác. Anh Đào Văn L1 đại điện cho Công ty T10 có quan điểm được xin lại chiếc xe máy trên.
Đối với biển kiểm soát 29X1 – 86131 xác định quá trình mượn xe của Đặng
Đăng S1 để sử dụng chiếc xe trên C1 đã nhặt được chiếc biển kiểm soát 29X1 – 86131 C1 đã lắp vào xe để sử dụng. Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu nhưng không xác định được thông tin chủ sở hữu liên quan. Cơ quan điều tra Công an huyện M tách chiếc biển kiểm soát 29X1 – 86131 để tiếp tục điều tra.
Đối với Nguyễn Văn H2 Cơ quan điều tra đã có quyết định khởi tố bị can số 159/QĐ-CSĐT ngày 14/6/2023 về hành vi: Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; thu giữ: 15,233gam MDMA và 17,644gam Ketamine. Quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra Công an huyện M đã nhiều lần triệu tập, đối tượng đều vắng mặt tại địa phương, không rõ ở đâu. Ngày 17/07/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện M ra Quyết định truy nã số 05/QĐTN đối với Nguyễn Văn H2. Ngày 14/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M ra Quyết định tách vụ án hình sự số 04/QĐ- CQĐT đối với bị can Nguyễn Văn H2:Tách hành vi: Mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn H2, Lương Xuân C1. Hành vi chuyển tiền mua ma tuý thông qua tài khoản liên quan đến hành vi của Trần Văn H4 và hành vi liên quan giao ma tuý Lâm Tăng T5, Đỗ Minh Q, Trần Văn H4 sử dụng và toàn bộ vật chứng liên quan đến Nguyễn Văn H2.
Đối với Nguyễn Văn H2 Cơ quan điều tra đã có quyết định khởi tố bị can số 159/QĐ-CSĐT ngày 14/6/2023 về hành vi: Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; thu giữ: 15,233gam MDMA và 17,644gam Ketamine. Quá trình điều tra vụ án Cơ quan điều tra Công an huyện M đã ra Lệnh bắt bị can để tạm giam số 10 đối với Nguyễn Văn H2 nhưng chưa bắt được nê ngày 17/07/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện M ra Quyết định truy nã số 05/QĐTN đối với Nguyễn Văn H2. Ngày 14/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M ra Quyết định tách vụ án hình sự số 04/QĐ-CQĐT đối với bị can Nguyễn Văn H2 để xác minh, điều tra về hành vi: Mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn H2, Lương Xuân C1. Hành vi chuyển tiền mua ma tuý thông qua tài khoản liên quan đến hành vi của Trần Văn H4 và hành vi liên quan giao ma tuý Lâm Tăng T5, Đỗ Minh Q, Trần Văn H4 sử dụng và toàn bộ vật chứng liên quan đến Nguyễn Văn H2.
Vật chứng chuyển theo hồ sơ vụ án gồm:
- 01 phong bì niêm phong có chữ kỹ của Lâm Tăng T5 và giám định viên được hoàn lại sau giám định.
- 01 phong bì niêm phong mẫu vật bên trong có 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng được hoàn lại sau giám định có chữ ký họ tên của Đỗ Minh Q và giám định viên.
- 01 phong bì niêm phong niêm phong mẫu vật bên trong có 01 tờ tiên Polime mệnh giá 10.000đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng được hoàn lại sau giám định có chữ ký họ tên của Lâm Tăng T5, Hà Công H1 và giám định viên.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu bạc, IMEI 1: 357447884845209, IMEI 2: 357447884715139 số thuê bao: 0348686139 thu giữ của Lương Xuân C1.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, vỏ màu trắng, số IMEI 1: 353905106553996, số IMEL 2: 353905106382602 số thuê bao: 0337694321 thu giữ của Lâm Tăng T5.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu ghi, số IMEI 1: 354446066445252, số thuê bao: 0987025810 thu giữ của Hà Công H1.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng, không biển kiểm soát thu giữ của Lương Xuân C1.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu xanh, IMEI 1: 357447884845209, IMEI 2: 357447884715139. Bên trong lắp sim số 0975456726, thu giữ của Dư Công Đ2.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận về hành vi phạm tội của bản thân, Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác hiện có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát, tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo. Tại cáo trạng số: 93/CT- VKS - HS ngày 21/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức truy tố:
Bị cáo Lâm Tăng T5 về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Lương Xuân C1 về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Hà Công H1 về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015 và tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Bị cáo Đỗ Minh Q về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Lương Xuân C1 từ 07 đến 08 năm tù về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Lâm Tăng T5 từ 15 đến 18 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và từ 30 đến 36 tháng tù về tội :“Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là từ 45 đến 54 tháng tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
xử phạt: Hà Công H1 30 đến 36 tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 07 đến 08 năm tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội từ 09 năm 06 tháng tù đến 11 năm tù.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Đỗ Minh Q từ 30 đến 36 tháng tù, về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Về hình phạt bổ sung: Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật là ma túy được hoàn lại sau giám định có chữ ký của Lâm Tăng T5 và giám định viên, cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 (Hai) phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu bạc, IMEI 1: 357447884845209, IMEI 2: 357447884715139 số thuê bao: 0348686139 thu giữ của Lương Xuân C1, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, vỏ màu trắng, số IMEI1: 353905106553996, số IMEI2: 353905106382602 số thuê bao: 0337694321 thu giữ của Lâm Tăng T5, trả lại cho bị cáo T5.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu ghi, số IMEI1: 354446066445252, số thuê bao: 0987025810 thu giữ của Hà Công H1, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu xanh, IMEI1: 357447884845209, IMEI2: 357447884715139. Bên trong lắp sim số 0975456726, thu giữ của Dư C, cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng, không biển kiểm soát thu giữ của Lương Xuân C1. Là xe máy của anh S1 cho bị cáo C1 sử dụng làm phương tiện đi lại nên đề nghị trả lại cho anh Hoàng Đăng S.
Trợ giúp viên pháp lý ông Nguyễn Ngọc C bào chữa cho bị cáo H1 có quan điểm: Nhất trí với tội danh và khung hình phạt theo cáo trạng viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo: nhưng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo H1, bởi: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân chưa tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu; bị cáo là người là người dân tộc Mường sống ở vùng kinh tế kho khăn theo Quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính Phủ, quyết định phê duyệt các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025, thì xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình thuộc xã khu vực III. Do kinh tế khó khăn, bị
cáo phải nghỉ học để đi lao động làm ăn phụ giúp gia đình, do thiếu hiểu biết bị cáo đã phạm tội nên đề nghị, Hội đồng xét xử áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, để xem xét xử phạt bị cáo H1 thấp hơn mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đề nghị và cho bị cáo được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo đều trình bày đã nhận thức ra hành vi phạm tội mình và xin hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng:
- Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện M và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện M và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về việc vắng mặt của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đã có lời khai và thể hiện quan điểm của mình trong quá trình điều tra. Vì vậy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự.
[2]. Về nội dung: Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm phù hợp với với lời khai tại cơ quan điều tra và nội dung bản cáo trạng, biên bản bắt người phạm tội quả tang, tang vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận: Để thuận tiện cho việc mua bán trái phép chất ma túy Lương Xuân C1, Nguyễn Văn H2, Lâm Tăng T5, Hà Công H1, Đỗ Minh Q đã cùng nhau sinh sống tại nhà trọ do Lương Xuân C1 đứng ra thuê tại: thôn C, xã P, huyện M của anh Nguyễn Văn P, sinh năm 1981.
Trong thời gian từ khoảng tháng 5 năm 2023 đến ngày 06/6/2023, các bị cáo Lương Xuân C1, Lâm Tăng T5, Hà Công H1, Đỗ Minh Q thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể như sau:
Ngày 06/6/2023, tại nhà thuê trọ nêu trên, Lâm Tăng T5 thống nhất với Hà Công H1 xin ma tuý của Nguyễn Văn H2 để cùng sử dụng, sau đó T5 gặp H2 xin được một gói ma túy “Ke”, T5 chia ma túy thành hai gói nhỏ, một gói Trường cất giấu tại túi quần đang mặc, mục đích để sử dụng riêng H1 không biết; còn lại 01 gói T5 mang vào phòng ngủ đưa cho H1. H1 dùng tờ tiền 2.000 đồng xào ma túy, dùng tờ tiền 10.000 đồng để cuộn làm ống hút rồi H1 và T5 cùng tổ chức cho nhau sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng gồm: Thu giữ trong túi quần T5 đang mặc 01 gói nhỏ ma túy loại Ketamine, khối lượng 1,146 gam và thu giữ tại mặt đệm trong giường ngủ của Lâm Tăng T5 và Hà Công
H1 01 ống hút tự tạo bằng tờ tiền Polime mệnh giá 10.000VNĐ; 01 tờ tiền mệnh giá 2.000VNĐ được giám định đều có dính ma túy loại Ketamine là công cụ các bị cáo thừa nhận vừa tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma túy.
Cùng ngày 06/6/2023 Đỗ Minh Q xin ma túy “Ke” của H2 để sử dụng, Q mang về phòng ngủ của mình rồi dùng tờ tiền 2.000 đồng để xào, dùng tờ tiền 1.000 đồng cuốn làm ống hút và tổ chức cho bạn gái là Đinh Thị D cùng sử dụng ma túy thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện thu giữ vật chứng gồm: 01 tờ tiền mệnh giá 1.000VNĐ và 01 tờ mệnh giá 2.000VNĐ được giám định đều có dính ma túy loại Ketamine là công cụ Q thừa nhận vừa sử dụng để tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy cùng với bạn gái là Đinh Thị D.
Ngoài ra còn chứng minh được Lương Xuân C1 thuê Hà Công H1 bán trái phép chất ma túy theo sự chỉ đạo của C1, trong thời gian từ ngày 30/5/2023 đến ngày 03/6/2023 các bị cáo đã 03 lần thực hiện hành vi bán trái phép chất ma túy, cụ thể: ngày 30/5/2023, C1 chỉ đạo H1 bán ma túy cho Nguyễn Trọng H3 gồm: 01 chỉ ma tuý “Ke” và 01 viên ma tuý “Kẹo” với số tiền thu được 1.750.000đồng. C1 chỉ đạo H1 bán ma túy cho Dư Công Đ2 02 lần gồm: bán nửa chỉ ma tuý “Ke” và 01 viên ma tuý “Kẹo” vào ngày 02/6/2023 thu số tiền 1.000.000đồng và ngày 03/6/2023 bán 02 viên ma tuý “Kẹo” thu số tiền 500.000đồng.
Theo Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:Tội tàng trữ trái phép chất ma túy, quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
....g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam"
Theo Điều 251 Bộ luật hình sự quy định: Tội mua bán trái phép chất ma túy, quy định:
“2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:
...b. Phạm tội 02 lần trở lên....”
Theo Điều 255 Bộ luật hình sự quy định: Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, quy định:
“1. Người nào tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy dưới bất kỳ hình thức nào, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
Như vậy: Hành vi của Lâm Tăng T5 đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Lương Xuân C1 đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Hà Công H1 đã phạm vào tội : “Tổ chức sử dụng
trái phép chất ma tuý” và tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Hành vi của Đỗ Minh Q đã phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội đã truy tố các bị cáo về tội danh cũng như điều luật áp dụng là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3]. Xét tính chất vụ án: Đây là vụ án có tính chất rất nghiêm trọng, Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm chế độ độc quyền quản lý chất ma túy của Nhà N1. Biết tác hại của việc mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng ma túy sẽ làm tổn hại đến với sức khỏe, là nguyên nhân gây lây lan bệnh tật và phát sinh nhiều tội phạm khác nhưng các bị cáo vẫn thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, cần có mức hình phạt tù nghiêm tương xứng với vai trò và mức độ phạm tội của các bị cáo.
[3]. Về vai trò của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
- Đối với bị cáo Lương Xuân C1 và bị cáo Hà Công H1 phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý, trong đó bị cáo Lương Xuân C1 là người có vai trò chính thuê địa điểm và thuê Hà Công H1 là người bán ma tuý cho C1 để kiếm lời; do vậy, mức hình phạt của C1 cần phải cao hơn mức hình phạt của H1 là phù hợp. Bị cáo H1 là người trực tiếp bán ma tuý tích cực cho C1, đồng thời bị cáo cùng với Lâm Tăng T5 tổ chức cho nhau sử dụng trái phép chất ma tuý; bị cáo cùng một lúc đã phạm hai tội nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt chung hình phạt đối với bị cáo.
- Đối với bị cáo Lâm Tăng T5 thống nhất với H1 xin ma tuý của H2 để hai bị cáo cùng nhau tổ chức sử dụng ma tuý nên phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Bị cáo T5 là người xin ma tuý để đưa cho bị cáo H1 xào ma tuý cùng nhau sử dụng. Bị cáo Lâm Tăng T5 ngoài ra còn tàng trữ ma tuý để sử dụng riêng và bị bắt quả tang cùng vật chứng; bị cáo cùng một lúc đã phạm hai tội nên cần áp dụng Điều 55 của Bộ luật hình sự năm 2015 để tổng hợp hình phạt chung hình phạt đối với bị cáo.
- Đối với bị cáo Đỗ Quang M1 xin ma tuý của H2 để tổ chức cho bạn gái Đinh Thị D sử dụng ma tuý nên phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”, cần phải chịu mức hình phạt tù nghiêm đối với bị cáo.
[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tại cơ quan điều tra và tại phiên toà các bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạm tội và tỏ ra ăn năn hối cải, nhân thân đều chưa có tiền án, tiền sự đây là những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Đối với bị cáo Hà Công H1 là người dân tộc
Mường ở vùng kinh tế kho khăn theo Quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính Phủ, quyết định phê duyệt các xã khu vực III, khu vực II, khu vực I thuộc đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2025, thì xã V, huyện T, tỉnh Hòa Bình thuộc xã khu vực III, nên áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo như đề nghị của đại diện viện kiểm sát là phù hợp.
[6]. Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) phong bì niêm phong mẫu vật là ma túy được hoàn lại sau giám định có chữ ký của Lâm Tăng T5 và giám định viên, cần tịch thu tiêu hủy.
- 02 (Hai) phong bì niêm phong mẫu vật được hoàn lại sau giám định gồm 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng, cần tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền trong phong bì niêm phong.
- Đối với các điện thoại thu giữ gồm: Thu giữ của Lương Xuân C1:01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu bạc, IMEI1: 357447884845209, IMEI2: 357447884715139 số thuê bao: 0348686139. Thu giữ của Lâm Tăng T5: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, vỏ màu trắng, số IMEI1: 353905106553996, số IMEI2: 353905106382602 số thuê bao: 033769432. Thu giữ của Hà Công H1: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu ghi, số IMEI 1: 354446066445252, số thuê bao: 0987025810. Tại phiên tòa các bị cáo đều thừa nhận dùng điện thoại trên để liên lạc trao đổi, mua bán và sử dụng trái phép chất ma túy nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu xanh, IMEI1: 357447884845209, IMEI2: 357447884715139 . Bên trong lắp sim số 0975456726, thu giữ của Dư C dùng để liên lạc mua ma tuý nên tịch thu sung quỹ nhà nước.
- 01 (một) xe máy nhãn hiệu Wave màu trắng, thu giữ của Lương Xuân C1. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh được chiếc xe máy HonDa Wave ALPHA, có số khung: RLHJA 3924NY532870, số máy: JA39E002874 chưa được cấp biển kiểm soát. Chủ sở hữu là Hoàng Đăng S, sinh năm: 1999, trú tại: TDP G, TT C, huyện C, TP Hà Nội. Anh S khai nhận đã mua chiếc xe trên tại cửa hàng Honda Minh T9 có địa chỉ tại quận H, Hà Nội bằng hình thức vay tiền và thế chấp xe máy của Công ty T10 từ tháng 2/2023. Đến khoảng tháng 5/2023 đã cho Lương Xuân C1 mượn làm phương tiện đi lại cá nhân, khi S cho C1 mượn chiếc xe chưa có biển kiểm soát và không biết C1 dùng vào việc phạm tội. Tra cứu chiếc xe trên không nằm trong dữ liệu vật chứng của vụ án khác. Anh Đào Văn L1 đại điện theo uỷ quyền của Công ty T10 xuất trình đề nghị cấp tín dụng kiêm hợp đồng tín dụng kiêm thoả thuận sử dụng dịch vụ điện tử (Hợp đồng) số:2W026514976 ngày 25/02/2023 giữa Công ty T10 – Chi nhánh H5 và anh Hoàng Đăng S ký kết hợp đồng với nội dung đề nghị
vay vốn, mục đích vay tiền mua xe máy HonDa Wave ALPHA, có số khung: RLHJA 3924NY532870, số máy: JA39E002874. Giá bán: 19.800.000đồng. Khoản tiền mặt trả trước 4.000.000đồng; số tiền đề nghị vay 15.800.000đồng; thời hạn vay 12 tháng, lãi xuất hàng tháng 5%, ngày thanh toán đầu tiên 27/03/2023, ngày thanh toán cuối cùng 27/02/2024. Khoản tiền hàng tháng phải trả 1.794.641đồng. Đồng thời giữa Công ty T10 – Chi nhánh H5 và anh Hoàng Đăng S ký hợp đồng thế chấp 2W026514976 ngày 25/02/2023 để thế chấp xe máy HonDa Wave ALPHA, có số khung: RLHJA 3924NY532870, số máy: JA39E002874. Anh Đào Văn L1 đại diện theo ủy quyền của công ty xin được nhận lại xe máy trên. Anh Hoàng Đăng S hiện nay đi làm không có mặt tại địa phương. Ông Hoàng Đăng S2, sinh năm 1945 là ông N2 của anh S, sinh sống cùng anh S đề nghị hiện nay anh S đi làm ăn xa, gia đình không liên lạc được. Ông S2 đại diện gia đình xin lại chiếc xe máy trên và gia đình có trách nhiệm đòng tiền trả đầy đủ Công ty theo quy định. Xét, việc anh Hoàng Đăng S cho Lương Xuân C1 mượn xe máy không biết C1 dùng xe máy vào việc phạm tội. Do vậy, cần trả lại chiếc xe máy trên cho anh S và gia đình. Việc giữa anh Hoàng Đăng S và Công ty T10 – Chi nhánh H5 có ký hợp đồng vay vốn và hợp đồng thế chấp tài sản nhưng chưa hết thời hạn của hợp đồng. Trường hợp các bên phát sinh tranh chấp về nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khi có yêu cầu.
- Đối với số tiền Lương Xuân Chiến và Hà Công H1 bán ma tuý cho Dư C2 hai lần với tổng số tiền 1.500.000đồng và bán ma túy cho Nguyễn Trọng H3 01 lần với số tiền là 1.750.000đồng. Tổng cộng 3.250.000đồng thu lời bất chính do Lương Xuân C1 sử dụng nên cần buộc Lương Xuân C1 phải nộp lại số tiền 3.250.000đồng để sung quỹ nhà nước.
- Đối với biển kiểm soát 29X1 – 86131, Cơ quan điều tra đã tiến hành tra cứu nhưng không xác định được thông tin chủ sở hữu liên quan. Cơ quan điều tra Công an huyện M đã tách để tiếp tục điều tra, là có căn cứ.
- Đối với bị can Nguyễn Văn H2 Cơ quan điều tra đã có quyết định khởi tố bị can số 159/QĐ-CSĐT ngày 14/6/2023 về hành vi: Mua bán trái phép chất ma tuý theo khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự; thu giữ: 15,233gam MDMA và 17,644gam Ketamine. Ra Lệnh bắt bị can để tạm giam số 10 đối với Nguyễn Văn H2. Quá trình điều tra vụ án không rõ ở đâu. Ngày 17/07/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện M ra Quyết định truy nã số 05/QĐTN đối với Nguyễn Văn H2. Ngày 14/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện M ra Quyết định tách vụ án hình sự số 04/QĐ-CQĐT đối với bị can Nguyễn Văn H2 để xác minh, điều tra về hành vi: Mua bán trái phép chất ma tuý của Nguyễn Văn H2, Lương Xuân C1. Hành vi chuyển tiền mua ma tuý thông qua tài khoản liên quan đến hành vi của Trần Văn H4 và hành vi liên quan giao ma tuý Lâm Tăng T5, Đỗ Minh Q, Trần Văn H4 sử dụng và toàn bộ vật chứng liên quan đến Nguyễn Văn H2.
- Đối với các lần Lương Xuân C1 mua ma túy của H2 để bán lại cho người
khác (những lần mua bán ma tuý chỉ có C1 và H2 biết) và 2 lần Lâm Tăng T5 mua ma tuý của H2, mỗi lần T5 mua 600.000₫ ma tuý “Ke” sau đó mang bán cho người có tên fakebook là “Mưa Trong Lòng” mỗi lần bán ma tuý, thu được số tiền là 1.000.000đ. T5 không nhớ thời gian và không biết họ tên, địa chỉ của người có tài khoản Facebook nêu trên và những lần Lâm Tăng T5, Đỗ Minh Q đi bán ma túy theo sự chỉ đạo của Nguyễn Văn H2 (khi đi bán ma túy chỉ có T5 và H2 hoặc Q và H2 biết vơi nhau) T5, Q không biết rõ họ, tên, địa chỉ của các đối tượng mua ma túy ở đâu. Mặt khác, bị can H2 đang bỏ trốn, ngoài lời khai của C1, T5, Q chưa có tài liệu khác chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy của C1, T5, Q nên chưa căn cứ xử lý trong vụ án này. Các hành vi trên của C1, T5, Q, Cơ quan điều tra Công an huyện M đã tách cùng với ra cùng với hành vi của Nguyễn Văn H2, khi nào bắt được H2 sẽ điều tra xử lý sau.
- Đối với Trần Văn H4, sinh năm 1995. Trú tại: thôn H, xã T, huyện C, thành phố Hà Nội là người chở Nguyễn Văn H2 sáng ngày 06/6/2023, sau đó H2 đi đâu H4 không biết. H4 thừa nhận việc H2 cho H4 ma tuý để sử dụng, H2 ở nhà trọ của C1 để bán ma tuý. H4 cho Nguyễn Văn H2 dùng chung tài khoản 0865118441 tại Ngân hàng TMCP Q1 của Trần Văn H4 để H2 sử dụng. Việc H2 mượn tài khoản của H4 để thực hiện nhận chuyển tiền mua bán trái phép chất ma tuý H4 chỉ nghe H2 kể lại nên chưa đủ căn cứ xử lý trong vụ án này. Hiện nay Nguyễn Văn H2 bỏ trốn nên Cơ quan điều tra Công an huyện M đã tách ra cùng với hành vi của Nguyễn Văn H2, khi nào bắt được H2 sẽ điều tra xử lý sau.
- Đối với hành vi của Dư Công Đ2 là người đã mua chất ma tuý của Hà Công H1 các ngày 02/6/2023 và ngày 03/6/2023 với mục đích để sử dụng và hành vi của Đinh Thị D là người sử dụng trái phép chất ma túy do Đỗ Minh Q tổ chức vào ngày 06/6/2023. Công an huyện M xác định là hành vi vi phạm hành chính nên đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Dư Công Đ2, Đinh Thị D, về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý quy định tại Khoản 1, Điều 23, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021, với mức phạt số tiền mối người 1.500.000đồng là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Trọng H3 là người mua ma tuý của Hà Công H1 vào ngày 30/6/2023 với mục đích để sử dụng, căn cứ kết quả xét nghiệm nước tiểu âm tích, nên Cơ quan CSĐT Công an huyện M xét chưa đủ căn cứ nên không đề cập xử lý H3 là phù hợp.
- Đối với Bùi Thị T6 là người được Nguyễn Trọng H3 nhờ tài khoản để chuyển số tiền 1.200.000đồng cho Lương Xuân C1. Do T6 không được trao đổi và bàn bạc gì và không biết việc H3 nhờ chuyển khoản tiền này là để trả tiền mua ma tuý, nên Cơ quan điều tra Công an huyện M không đề cập xử lý T6 là phù hợp.
- Đối với Nguyễn Văn P, sinh năm: 1981, trú tại: thôn P, xã P, huyện M, TP Hà Nội là chủ nhà mà các bị cáo thuê trọ. Anh P không biết các bị cáo thuê trọ để đi bán ma túy và sử dụng ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.
- Đối với người hỏi mua ma túy 02 lần của Lâm Tăng T5 có tên fakebook là “Mưa Trong Lòng” do T5 không biết người này là ai, họ tên địa chỉ cụ thể ở đâu, không nhớ thời gian truy cập, nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh và đề cập xử lý là có căn cứ.
[7]. Về án phí: Các bị cáo C1, T5 và Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo H1 là người dân tộc Mường sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và tại phiên toà đề nghị được xem xét miễn án phí hình sự sơ thẩm nên căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H1.
[8]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố:
- Về điều khoản áp dụng và hình phạt:
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015:
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu bạc, IMEI 1: 357447884845209, IMEI 2: 357447884715139 số thuê bao: 0348686139 thu giữ của Lương Xuân C1.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 promax, vỏ màu trắng, số IMEI1: 353905106553996, số IMEI2: 353905106382602 số thuê bao: 0337694321 thu giữ của Lâm Tăng T5.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6, vỏ màu ghi, số IMEI1: 354446066445252, số thuê bao: 0987025810 thu giữ của Hà Công H1.
- 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 promax, vỏ màu xanh, IMEI 1:357447884845209, IMEI2: 357447884715139. Bên trong lắp sim số 0975456726, thu giữ của Dư Công Đ2.
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 15.000đồng, gồm 01 tờ tiền Polime mệnh giá 10.000đồng và 02 tờ tiền mệnh giá 2.000đồng và 01 tờ tiền mệnh giá 1.000đồng trong hai phong bì niêm phong được hoàn lại sau giám định.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo C1, T5, Q mỗi bị cáo phải nộp 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo H1.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo C1, T5, H1 và Q có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 26 tháng 12 năm 2023. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án đối với phần quyền lợi, nghĩa vụ liên quan của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
Bị cáo Lương Xuân C1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Lâm Tăng T5 phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Hà Công H1 phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý”.
Bị cáo Đỗ Minh Q phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Lương Xuân C1 07 (Bảy) năm 06 (S3) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/6/2023.
Áp dụng điểm g khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: L (Mười lăm) tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” và 30 (Ba mươi) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 45 (Bốn mươi lăm) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/6/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 255 và điểm b khoản 2 Điều 251 điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 55 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Hà Công Học 02 (Hai) năm 06 (S3) tháng tù về tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” và 07 (B) năm tù, về tội: “Mua bán trái phép chất ma tuý””. Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 09 (Chín) năm 06 (S3) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/6/2023.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt: Đỗ Minh Q 30 (Ba mươi)
tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 06/6/2023.
3.1. Buộc Lương Xuân C1 phải nộp lại số tiền 3.250.000đồng bán ma tuý thu lời bất chính để sung quỹ nhà nước.
3.2. Tịch thu sung quỹ nhà nước gồm:
3.3. Tịch thu tiêu huỷ: 01 phong bì thư dán kín hoàn lại sau giám định có chữ ký của Lâm Tăng T5 và giám định viên.
3.4. Trả lại anh Hoàng Đăng S 01 (một) xe máy nhãn hiệu xe máy HonDa Wave ALPHA màu trắng.
Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 24 tháng 11 năm 2023 giữa Công an huyện M và Chi cục thi hành án Dân sự Mỹ Đức.
Nơi nhận :
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Việt Cường |
Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về vụ án hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý, tàng trữ trái phép chất ma tuý và tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 104/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội Mua bán trái phép chất ma tuý, Tàng trữ trái phép chất ma tuý và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỸ ĐỨC, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lương Xuân Chiến cùng đồng phạm tội Mua bán trái phép chất ma túy
