Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC BÌNH

TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2023/HS-ST

Ngày: 26-12-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tuấn Anh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Tấn Khoa và bà Phạm Thị Bích Lệ.

Thư ký phiên tòa: Bà Minh Thị Thu Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Vân - Kiểm sát viên.

( Tham gia tại điểm cầu trung tâm)

Ngày 26 tháng 12 năm 2023, tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình và điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện B sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 120/2023/ TLST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình đối với bị cáo:

Lê Thanh T (Tên gọi khác: B) sinh năm 1996; tại tỉnh Bình Thuận;

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khu phố X, thị trấn C, huyện B, Bình Thuận

Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam;

Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn D, sinh năm 1968 và Mẹ Hà Thị H, sinh năm 1965; anh, chị, em ruột: gia đình có 02 người con, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; vợ, con: Chưa có.

Tiền sự: Vào ngày 23/5/2020, Lê Thanh T được đưa vào Cơ sở cai nghiện ma túy bảo trợ xã hội P, tỉnh Bình Phước, thời hạn 18 tháng theo Quyết định số 243/QĐTA ngày 23/7/2023 của TAND quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, ngày 23/11/2021 chấp hành xong thời hạn cai nghiện bắt buộc.

Tiền án: không.

Bị can bị tạm giữ từ ngày 12/8/2023 đến ngày 15/8/2023 chuyển tạm giam cho đến nay.

Bị cáo có mặt tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ công an huyện B, tỉnh Bình Thuận

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hà Thị H, sinh năm 1965

Địa chỉ: KP X, thị trấn C, huyện B, tỉnh Bình Thuận.

(Bà H có mặt tại điểm cầu trung tâm Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận)

Người tham gia tố tụng khác:

+ Đại diện Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình: Ông Đa Văn T1 – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Bình

+ Đại diện nhà tạm giữ Công an huyện B: Nguyễn Hữu P; Lâm Quang L; Chức vụ: Cán bộ Nhà tạm giữ Công an huyện B.

(Tham gia tại điểm cầu thành phần Nhà tạm giữ Công an huyện B)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 07 giờ 15 phút ngày 23/7/2023, Lê Thanh T (tên gọi khác là B, sinh ngày 06/11/1996) đang ở nhà của T ở khu phố X, thị trấn C, huyện B, do có nhu cầu sử dụng ma túy nên T điều khiển xe mô tô biển số 86B2 - 570.89 do T đứng tên chủ sở hữu đến khu vực chợ P2, thuộc khu phố G, thị trấn P, huyện T để tìm một người phụ nữ có tên thường gọi là M (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Đến khoảng 08 giờ 05 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển số 86B2 – 570.89 chạy xung quanh Chợ thì thấy người phụ nữ tên M đi xe đạp điện đứng một mình ngay chợ P2. Khi thấy bà Mập T2 nói “Cô M ơi con lấy đồ” (tức là T2 hỏi bà M mua ma túy), bà M đồng ý và hỏi T2 lấy bao nhiêu tiền thì T2 trả lời là mua 600.000 đồng ma túy. T2 đưa cho bà M 600.000 đồng rồi bà M chỉ vị trí cất giấu ma túy cách chỗ T2 với bà M đang đứng khoảng 20 mét có vỏ bao thuốc lá gần cây trụ điện, T2 điều khiển xe mô tô chạy đến chỗ bà M chỉ thì thấy có 01 (một) vỏ bao thuốc lá màu trắng, hiệu COTAB cách chân trụ điện khoảng 20 cm, T2 nhặt bao thuốc lá lên xem thì thấy bên trong có 01 bịch nhựa màu trắng, trong bịch nhựa có 01 (một) cục ma túy, T2 lấy bịch nhựa bên trong có cục ma túy (H) bọc vào trong túi quần bên trái rồi bỏ lại vỏ bao thuốc lá. Sau đó, T2 điều khiển xe mô tô biển số 86B2 – 570.89 từ thị trấn P, huyện T về lại nhà của T2 ở khu phố X, thị trấn C, huyện B. T2 vào phòng ngủ của T2 lấy ra 01 (một) bịch nhựa bên trong có 01 (một) cục ma túy đã mua trước đó từ bà M vào ngày 21/07/2023 T2 cất giấu trong gối nằm đem ra sử dụng một ít. Sử dụng xong, T2 lấy phần ma túy còn lại bỏ vào bịch nhựa. T2 lấy 02 bịch nhựa có chứa ma túy (mua ngày 21/7/2023 và ngày 23/7/2023) cất giấu vào trong gối ngủ màu đỏ rồi T2 đi làm việc nhà. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 24/7/2023, khi T2 đang ở trong phòng thì nghe bà Hà Thị H và ông Lê Văn D là ba mẹ ruột của T2 nói chuyện về việc gia đình bị kẻ gian lấy trộm dây điện thắp bóng thanh long, bà H và ông D nghi ngờ T2 lấy dây điện của gia đình đem đi bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng. Triệu sợ việc T2 mua ma túy về sử dụng bị phát hiện nên T2 nhanh chóng lấy 02 bịch nhựa bến trong có chứa ma túy đang giấu ở trong gối ngủ màu đỏ ra cất giấu vào trong quần lót (quần xì) Triệu đang mặc trên người. Vừa cất giấu xong, bà H và ông D đi vào phòng của T2 hỏi T2 có lấy dây điện đem bán lấy tiền tiêu xài và mua ma túy sử dụng hay không thì T2 thừa nhận là có lấy dây điện đem bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Vì nghi T2 giấu ma túy trong người nên bà H và ông D giữ T2 lại và kiểm tra trong người của T2 thì phát hiện Triệu giấu 02 bịch nhựa, bên trong mỗi bịch có chứa ma túy là của T2 mua của một người phụ nữ tên M ở chợ P2, thuộc thị trấn P, huyện T về sử dụng. Sau đó, bà H và ông D lấy 02 bịch ma túy để trình báo cho Công an. Đến khoảng 16 giờ 30 phút ngày 24/7/2023, bà H và ông D đi làm về thấy T2 không có ở nhà nên nghi ngờ T2 lấy trộm số vàng mà bà H và ông D cất giấu ở đế chân máy quạt để trong phòng ngủ của bà H và ông D. Bà H và ông D vào phòng ngủ kiểm tra thì phát hiện đã mất số vàng nên bà H và ông D đã trình báo sự việc mất trộm số vàng đến Công an thị trấn C, huyện B. Đồng thời bà H, ông D đem 02 bịch ma túy mà Triệu giấu trong người để giao nộp cho Công an thị trấn C và trình bày sự việc Triệu trộm vàng của bà H ông D để vào thành phố Hồ Chí Minh bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân. Đến ngày 12/8/2023 T2 từ Thành phố Hồ Chí Minh đón xe khách về nhà thì bị Công an mời lên làm việc và trong quá trình điều tra T2 đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án nêu trên.

Tại bản Kết luận giám định số: 935/KLGĐ-PC09 ngày 04/8/2023 của Phòng K Công an tỉnh B, xác định: Phong bì được niêm phong còn nguyên vẹn có các chữ ký ghi tên Nguyễn Thế V; Mãn Ngọc P1; Hà Thị H và Lê Văn D. Trong phong bì có 01 (bịch) nhựa mà trắng, hàn kín, kích thước (05 x 03)cm, bên trong bịch nhựa có chứa chất màu trắng được (Ký hiệu M1); 01 (bịch) nhựa mà trắng, được hàn kín, kích thước (2,5 x 2,5)cm, bên trong bịch nhựa có chứa chất màu trắng (Ký hiệu M2).

Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,3186 gam; là Heroine. Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,0689 gam; là Heroine. M1 + M2 là 0,3875 gam; là Heroine.

Đối với người phụ nữ tên M (không rõ nhân thân, lai lịch) đã bán ma túy cho Triệu qua xác minh tại Công an thị trấn P, huyện T do không đủ thông tin nên chưa xác định được người phụ nữ tên M đã bán ma túy cho T2 là ai. Vì vậy, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.

Đối với hành vi Lê Thanh T lén lút trộm vàng của bà H, ông D lấy tiền tiêu xài cá nhân vào ngày 24/7/2023, tại khu phố X, thị trấn C, huyện B, sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với T nên không giải quyết trong vụ án này.

Về tang, vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra tạm giữ gồm: Phong bì số 935 có chữ ký của giám định viên Nguyễn Hồng T3 và dấu tròn của Phòng K Công an tỉnh B, bên trong gồm: 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (05 x 03)cm, đã cắt lấy mẫu còn lại sau giám định 0,2615 gam (M1); 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (2,5 x 2,5)cm, đã cắt lấy mẫu (M2) còn lại sau giám định 0,0126 gam. Cơ quan điều tra sẽ chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Bình để bảo quản chờ xử lý theo pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô biển số 86B2 - 570.89 do T đứng tên sở hữu và T điều khiển đến thị trấn chợ P2, thuộc thị trấn P, huyện T để mua ma túy vào ngày 21/7/2023 và ngày 23/7/2023 để sử dụng là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên phải tịch thu sung vào ngân sách nhà nước. Sau khi bị bà H phát hiện T có hành vi tàng trữ ma túy và trộm cắp tài sản của bà H và ông D, T đã để lại chiếc xe mô tô biển số 86B2 - 570.89 ở nhà và bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh. Vào ngày 16/8/2023, bà Hà Thị H đã tự ý bán xe mô tô biển số 86B2 570.89 do T đứng tên mà không hỏi ý kiến Triệu cho một người thanh niên (không rõ nhân thân, lai lịch) tại nhà của bà H với số tiền là 30.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh và ra Quyết định truy tìm vật chứng nhưng đến nay không xác định được người thanh niên đã mua xe mô tô nêu trên và cũng không thu hồi được chiếc xe để xử lý. Do đó, Cơ quan điều tra đã yêu cầu định giá đối với chiếc xe mô tô biển số 86B2 - 570.89 trên hồ sơ để xử lý theo quy định pháp luật. Tại kết luận định giá tài sản số: 77/2023/KL-HĐĐGTS ngày 15/11/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện B; kết luận như sau: 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh biển số 86B2-570.89, nhãn hiệu Honda, số loại SONIC 150R, màu sơn đen, dung tích xi lanh 149cm³, số máy KB11E1236686, số khung MH1KB1111KK237162, mua mới tháng 01/2020, giá trị chiếc xe bị bán ngày 16/8/2023 là 33.000.000 đồng.

Tại bản Cáo trạng số 129/CT-VKSBB ngày 24 tháng 11 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình truy tố bị cáo Lê Thanh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, vị Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố, luận tội và tranh luận về hành vi phạm tội của bị cáo Lê Thanh T thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017). Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cãi.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Lê Thanh T từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Áp dụng: Điểm c khoản 1 điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Về tang, vật chứng của vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (05 x 03)cm, đã cắt lấy mẫu còn lại sau giám định 0,2615 gam (M1); 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (2,5 x 2,5)cm, đã cắt lấy mẫu (M2) còn lại sau giám định 0,0126 gam là heroin.

Về phần trách nhiệm dân sự: 01 (một) chiếc xe mô tô hai bánh biển số 86B2-570.89 đứng tên chủ sở hữu Lê Thanh T không phải là phương tiện dùng trong việc phạm tội nên không buộc bà Hà Thị H có trách nhiệm nộp tiền 33.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước

Bị cáo Lê Thanh T không tranh luận gì với bản luận tội của Kiểm sát viên, đồng thời thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng ý với quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình chỉ xin Hội đồng xét xử cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến gì về phần trách nhiệm bồi thường dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hồi đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Bình, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận:

Vào khoảng 7 giờ 15 phút ngày 23/7/2023 bị cáo Lê Thanh T do có nhu cầu sử dụng ma túy nên đã điều khiển chiếc xe mô tô biển số 86B2-570.89 từ nhà thuộc khu phố X, thị trấn C, B đến thị trấn P, huyện T gặp một người phụ nữ tên M để mua ma túy về cất giấu sử dụng. Khi về đến nhà bị cáo T có lấy ma túy mua ngày 21/7/2023 ra sử dụng một ít và bị cáo lấy 02 bịch nhựa có chứa ma túy mua ngày 21/7/2023 và 23/7/2023 đem cất giấu vì lo sợ ba mẹ mình là bà H và ông D phát hiện nên bị cáo cất giấu 02 bịch ma túy trong người. Đến ngày 24/7/2023 vì nghi ngờ T lấy dây điện của mình bán để mua ma túy sử dụng bà H và ông D có hỏi bị cáo thì bị cáo thừa nhận vì nghi ngờ bị cáo có cất giấu ma túy trọng người nên bà H và ông D đã kiểm tra trong người của bị cáo thì phát hiện trong người bị cáo có 02 bịch nhựa có chứa ma túy. Đến ngày 24/8/2023 Do nghi ngờ bị cáo T trộm vàng của mình đi bán lấy tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân bà H ông D đã trình báo sự việc mất trộm đồng thời giao nộp 02 bịch nhựa cho Công an thị trấn C. Sau khi trộm vàng xong bị cáo T đón xe khách vào thành phố Hồ Chí Minh để bán vàng lấy tiền tiêu xài đến khi tiêu xài hết tiền, ngày 12/8/2023 bị cáo T đón xe khách từ thành phố Hồ Chí Minh về nhà thì được Công an mời lên làm việc, tại đây bị cáo đã thừa nhận tất cả hành vi của mình.

Đối với hành vi bị cáo lén lút trộm vàng của bà H, ông D lấy tiền tiêu xài cá nhân vào ngày 24/7/2023, tại khu phố X, thị trấn C, huyện B, sau khi định giá tài sản, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với bị cáo nên không giải quyết trong vụ án này.

Bị cáo Lê Thanh T hoàn toàn nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái với quy định của pháp luật. Thế nhưng để có ma túy sử dụng, bị cáo không những không chấp hành mà còn vi phạm pháp luật. Hành vi phạm tội của bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy mà còn xâm phạm đến trật tự trị an tại địa phương, xâm hại đến sức khoẻ, sự tồn vong của con người và là nguyên nhân của một số tội phạm khác. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh tương xứng với tính chất mức độ của hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.

[3]. Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
  • - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Lê Thanh T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về xử lý vật chứng vụ án: Tịch thu, tiêu hủy 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (05 x 03)cm, đã cắt lấy mẫu còn lại sau giám định 0,2615 gam (M1); 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (2,5 x 2,5)cm, đã cắt lấy mẫu (M2) còn lại sau giám định 0,0126 gam là heroin.

[5] Về phần trách nhiệm dân sự: Đối với chiếc xe mô tô biển số 86B2 - 570.89 do T đứng tên chủ sở hữu, vào ngày16/8/2023 bà Hà Thị H đã tự ý bán xe mô tô biển số 86B2 570.89. Xét thấy chiếc xe biển số 86B2 - 570.89 không phải là phương tiện dùng vào việc phạm tội. Tại phiên tòa bị cáo không yêu cầu HĐXX giải quyết đối với chiếc xe. Vì vậy bà Hà Thị H không phải nộp số tiền 33.000.000 đồng vào ngân sách nhà nước.

[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • * Căn cứ: Khoản 1 Điều 268; Khoản 1 Điều 269 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ Luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).
  • * Tuyên bố: Bị cáo Lê Thanh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • * Xử phạt: Xử phạt bị cáo Lê Thanh T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/8/2023.
  • *Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017); Tịch thu, tiêu hủy phong bì số 935 bên trong gồm: 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (05 x 03)cm, đã cắt lấy mẫu còn lại sau giám định 0,2615 gam (M1); 01 (bịch) nhựa màu trắng, kích thước (2,5 x 2,5)cm, đã cắt lấy mẫu (M2) còn lại sau giám định 0,0126 gam là heroin. Vật chứng hiện có tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Bắc Bình theo biên bản giao nhận lập ngày 22/12/2023.
  • * Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 Bộ Luật Tố tụng Hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thanh T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

*Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 26/12/2023)

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND tỉnh Bình Thuận;
  • - VKSND huyện Bắc Bình;
  • - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Nhà tạm giữ - Công an huyện Bắc Bình;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Bình;
  • - Lưu HSVA, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tuấn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 104/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC BÌNH, TỈNH BÌNH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thanh Triệu (hình sự)
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger