|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/DS-PT Ngày 26 - 8 - 2024 “V/v Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Trọng
Các Thẩm phán: - Bà Phạm Thị Thúy Mai
- Ông Vũ Văn Mạnh
- Thư ký phiên toà: Bà Đoàn Thị Thùy Dương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc: Bà Hoàng Thị Tuyết
- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa
Ngày 26 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 53/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng ”. Do bản án Dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương có kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 136/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thái H, sinh năm 1957, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Bị đơn: Ông Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1971, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
-
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Cụ Nguyễn Thị S, sinh năm 1947, (vắng mặt).
- - Bà Đào Thị H2, sinh năm 1976, (có mặt).
Đều địa chỉ: Thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Người kháng cáo: Ông Nguyễn Thái H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Nguyễn Thái H trình bày: Bố mẹ ông là cụ Nguyễn Văn Q và cụ Bùi Thị V (đều đã chết), bố mẹ ông có khai hoang được 01 thửa đất theo bản đồ Vn 2000 thì thửa đất này có số thửa 309, tờ bản đồ số 33 ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Hiện nay thửa đất trên đang do vợ chồng ông quản lý, sử dụng và chưa được Nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ). Thửa đất của ông có một phần giáp với đất của ông Nguyễn Xuân T (đã chết) và vợ là bà Nguyễn Thị S, hiện nay thửa đất này đang do con trai của ông T và bà S là ông Nguyễn Xuân H1 quản lý, sử dụng. Giữa thửa đất của ông và ông H1 trước đây có ranh giới là bức tường bằng đất do ông đắp khoảng năm 2004, tuy nhiên do ông T (bố ông H1) xẻ hào dưới chân tường nên khoảng năm 2016, 2017 bức tường bị đổ không còn nữa (do là tường đất nên không có móng tường).
Hiện nay ranh giới giữa 2 thửa đất không còn, ông H1 đã lấn chiếm đất phía giáp với thửa đất của gia đình ông, cụ thể theo như chỉ dẫn của ông tại buổi đo đạc xem xét thẩm định ngày 12/01/2024, thì phần diện tích đất của ông bị ông H1 lấn chiếm là 41,3m². Ngoài việc lấn chiếm đất của ông thì ông H1 còn đốt 01 búi tre của ông. Do vậy, ông khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc ông H1 phải trả lại phần đất đã lấn chiếm của ông là 41,3m² và buộc ông H1 phải bồi thường cho ông 2.210.000đồng giá trị búi tre của ông đã bị ông H1 đốt, ngoài ra ông không yêu cầu, đề nghị gì khác.
Bị đơn, ông Nguyễn Xuân H1 trình bày: Bố mẹ ông là ông Nguyễn Xuân T (chết năm 2023) và bà Nguyễn Thị S. Theo ông được biết trước đây ông bà nội ông có khai hoang được 01 thửa đất, theo bản đồ Vn 2000 là thửa số 307, tờ bản đồ số 33 ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Thửa đất này đang do ông quản lý, sử dụng và chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Thửa đất của ông đã được xây tường bao loan xung quanh, riêng phía Đông thửa đất giáp thửa đất của ông Nguyễn Thái H, trước đây đã có 01 tường bao loan đắp đất do ông H đắp, nhưng khoảng năm 2019 do mưa bão nhiều nên tường đã bị đổ; do vậy hiện nay giữa đất của ông và đất ông H không có tường bao loan. Tuy nhiên ranh giới đất của hai nhà vẫn xác định được do nền đất của ông H cao hơn nền đất của ông. Từ khi ông bà ông khai hoang đất cho đến nay, gia đình ông vẫn sử dụng đất ổn định, lâu dài, không có tranh chấp với ai. Nay ông H khởi kiện cho rằng ông lấn chiếm đất của ông H là không đúng và không có căn cứ. Đối với nội dung ông H cho rằng ông đốt bụi tre của nhà ông H là không đúng. Do vậy, ông đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đào Thị H2 trình bày: Bà kết hôn với ông Nguyễn Thái H năm 2005, sau khi kết hôn, bà về chung sống cùng gia đình ông H. Đối với thửa đất số 309, tờ bản đồ số 33 ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, theo bà được biết trước đây là do bố mẹ chồng bà là cụ Nguyễn Văn Q và cụ Bùi Thị V (đều đã chết) khai hoang mà có. Khi bà về làm dâu, bà cùng với bố mẹ chồng và chồng là ông H phát quang, trồng cây cối trên đất, hiện nay thửa đất trên đang do vợ chồng bà quản lý và chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Thửa đất này có một phần giáp với đất của ông Nguyễn Xuân T (đã chết) và vợ là Nguyễn Thị S, hiện nay thửa đất này đang do con trai của ông T và bà S là ông H2 quản lý, sử dụng. Giữa thửa đất của vợ chồng bà và thửa đất của ông H2 trước đây có ranh giới là bức tường đắp bằng đất, tuy nhiên do ông T (bố ông H2) xẻ hào dưới chân tường nên bức tường không còn nữa (do là tường đất nên không có móng tường). Do vậy ranh giới giữa hai thửa đất không có. Đối với búi tre nhà bà trồng đã bị ông H2 đốt, nhưng ông bà không có tài liệu, chứng cứ nào để nộp cho Tòa án. Nay, ông H có đơn khởi kiện yêu cầu ông H2 phải trả lại 41,3m² đất lấn chiếm và bồi thường búi tre đã bị đốt, bà đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, cụ Nguyễn Thị S, tại biên bản lấy lời khai ngày 27/3/2024 trình bày: Cụ kết hôn với ông Nguyễn Xuân T (chết năm 2023) khoảng năm 1964, sau khi kết hôn, cụ về chung sống cùng gia đình ông T. Đối với thửa đất số 307, tờ bản đồ số 33 ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc, theo cụ được biết trước đây là do bố mẹ chồng cụ (đều đã chết) khai hoang mà có. Khi cụ về làm dâu, cụ cùng với bố mẹ chồng và chồng là ông T có phát quang, trồng cây cối trên đất. Năm 2015 vợ chồng cụ cho con trai là Nguyễn Xuân H1 quản lý, sử dụng thửa đất trên từ đó cho đến nay. Thửa đất này chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ. Thửa đất có một phần giáp với đất của ông Nguyễn Thái H. Giữa 2 thửa đất, trước đây có ranh giới là bức tường đắp bằng đất do ông H đắp, tuy nhiên do thời gian mưa gió lâu ngày nên bức tường đắp đất đã đổ. Hiện nay ranh giới giữa 2 thửa đất không còn nữa. Việc ông H cho rằng ông H1 đốt búi tre của ông H là không đúng, gia đình cụ không ai đốt búi tre. Nay, ông H có đơn khởi kiện yêu cầu ông H1 phải trả lại đất và bồi thường búi tre đã bị đốt, cụ đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông H.
Với nội dung trên, Tòa án nhân dân huyện Tam Dương đã căn cứ khoản 6, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào các Điều 166, 175, 584, 585, 589 của Bộ luật dân sự; Điều 203 của Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái H về việc buộc ông Nguyễn Xuân H1 phải trả lại phần đất lấn chiếm là 41,3m² và buộc ông H1 phải bồi thường 2.210.000đồng giá trị búi tre bị đốt.
- Ranh giới giữa hai thửa đất số 307 và 309 tờ bản đồ số 33 tại thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc được giới hạn theo các chỉ giới 1, 2, 3, 4 thể hiện tại Sơ đồ hiện trạng thửa đất và tài sản gắn liền trên đất ngày 12/01/2024 của Công ty Cổ phần T1 (có sơ đồ hiện trạng kèm theo).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí dân sự, chi phí tố tụng, quyền thi hành án và quyền kháng cáo cho các đương sự.
Ngày 07/5/2024, nguyên đơn ông Nguyễn Thái H có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án dân sự sơ thẩm số 08/2024/DS-ST ngày 26/4/2024 theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về hình thức: Đơn kháng cáo của ông Nguyễn Thái H làm trong hạn luật định, đơn hợp lệ nên được chấp nhận để xem xét.
[2]. Về tố tụng: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn phải trả lại phần đất lấn chiếm và bồi thường thiệt hại do đốt búi tre. Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39 xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định tại khoản 6, 9 Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương là có căn cứ.
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cụ Nguyễn Thị S được Tòa án triệu tập hợp lệ 2 lần nhưng đều vắng mặt, căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.
[3]. Xét nội dung kháng cáo của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
[3.1]. Thửa đất số 309, tờ bản đồ số 33 ở thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc do vợ chồng ông H quản lý, sử dụng, chưa được Nhà nước cấp GCNQSDĐ có một phần giáp với đất do ông Nguyễn Xuân H1 quản lý, sử dụng. Giữa thửa đất của ông H và ông H1 trước đây có ranh giới là bức tường bằng đất do ông H đắp khoảng năm 2004, tuy nhiên khoảng năm 2016, 2017 bức tường bị đổ không còn nữa nên hiện nay ranh giới giữa 2 thửa đất không còn; ông H cho rằng ông H1 đã lấn chiếm đất phía giáp với thửa đất của gia đình ông, cụ thể theo như chỉ dẫn của ông tại buổi đo đạc xem xét thẩm định ngày 12/01/2024 thì phần diện tích đất của ông bị ông H1 lấn chiếm là 41,3m². Ngoài việc lấn chiếm đất của ông thì ông H1 còn đốt 01 búi tre của ông H. Do vậy, ông H khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Xuân H1 phải trả lại phần đất đã lấn chiếm của ông H là 41,3m² và buộc ông H1 phải bồi thường cho ông H 2.210.000đồng giá trị búi tre của ông đã bị ông H1 đốt.
[3.2]. Về nguồn gốc, quá trình sử dụng đất và các tài liệu, hồ sơ quản lý đất đai có liên quan đối với hộ ông H và ông H1 thể hiện: Về nguồn gốc thửa đất tranh chấp, theo xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H thể hiện: Thửa đất số 309, tờ bản đồ số 33 (bản đồ VN 2000) do nguyên đơn ông H đang quản lý, sử dụng, có nguồn gốc do bố mẹ ông H là cụ Nguyễn Văn Q (chết năm 2002) và cụ Bùi Thị V (chết năm 1990) khai hoang sử dụng là ao cạn, sau này gia đình cụ Q san lấp đất để trồng một số cây rau màu. Thửa đất số 307, tờ bản đồ số 33 (Bản đồ VN 2000) hiện nay do bị đơn ông H1 quản lý, sử dụng, có nguồn gốc do bố mẹ ông H1 là cụ Nguyễn Xuân T (chết năm 2023) và cụ Nguyễn Thị S khai hoang sử dụng để trồng hoa màu, trồng sắn. Hai thửa đất trên được các bên sử dụng ổn định lâu dài từ nhiều năm và đều chưa được cấp GCNQSDĐ.
Bản đồ 299, sổ mục kê, sổ địa chính đều không thể hiện thông tin về 02 thửa đất trên. Theo bản đồ VN 2000 thửa đất 309 có diện tích 548,8m², ký hiệu TSN (đất ao). Thửa đất số 307 có diện tích 322,9m², ký hiệu LUC (đất ruộng). Việc đo đạc lập bản đồ VN B được thực hiện năm 2009 đo theo hiện trạng sử dụng đất. Đối với thửa đất 307 và thửa 309 theo hồ sơ lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã H không thể hiện có biên bản xác nhận ranh giới, mốc giới theo hiện trạng sử dụng đất, vì 02 thửa đất này đều chưa được cấp GCNQSDĐ.
[3.3]. Quá trình quản lý sử dụng đất giữa hộ ông H và hộ ông H1 xảy ra tranh chấp về ranh giới: Theo xác minh của Tòa án cấp sơ thẩm đối với các hộ gia đình sử dụng đất liền kề nhà ông H, ông H1 thì ngoài ranh giới thửa đất giữa hai nhà xảy ra tranh chấp thì từ trước đến nay không có tranh chấp với các hộ nào khác, không thấy có báo cáo với chính quyền địa phương. Theo ông H trình bày: Khoảng năm 2016 – 2017 do ông T (bố ông H1) xẻ hào dưới chân tường nên bức tường bị đổ không còn nữa (do là tường đất nên không có móng tường). Ông H1 cho rằng khoảng năm 2019 do mưa bão nhiều nên tường đã bị đổ; do vậy hiện nay giữa đất của ông và đất ông H không có tường bao loan; tuy nhiên ranh giới đất của hai nhà vẫn xác định được do nền đất của ông H cao hơn nền đất của ông. Do đó giữa hai nhà đã xảy ra tranh chấp. Ngày 10/8/2022, UBND xã H ban hành Công văn số 248/HC-UBND trả lời đơn đề nghị của ông H về việc đề nghị giải quyết tranh chấp giữa nhà ông H và ông H1. Nội dung công văn thể hiện UBND xã đã thành lập tổ công tác để xác minh và giải quyết tranh chấp ranh giới giữa hai nhà. UBND xã đã phối hợp cùng đơn vị đo đạc kiểm tra, đo cắm mốc cụ thể, phù hợp với kích thước chiều cạnh như biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 12/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
[3.4]. Về diện tích và hình thể thửa đất của hai gia đình sử dụng: Về hình thể hiện trạng thửa đất so với hình thể thửa đất theo Bản đồ VN2000 do UBND xã cung cấp là đường gấp khúc là phù hợp nhau, không thay đổi hình thể thửa đất. Kết quả đo đạc hiện trạng thực tế sử dụng đất của Công ty Cổ phần T1 bản đồ CDP đo vẽ ngày 12/01/2024, thể hiện: Thửa đất số 309 do ông H quản lý sử dụng có tổng diện tích theo chỉ dẫn của ông H là 640,5m² (bao gồm cả phần diện tích đất tranh chấp là 41,3m²). Thửa đất số 307 do ông H1 quản lý, sử dụng có tổng diện tích theo chỉ dẫn của ông H1 là 325,4m² (bao gồm cả phần diện tích đất tranh chấp là 41,3m²). So với bản đồ VN 2000 thì diện tích thửa đất 309 (640,5m² - 548,8m²) thừa 91,7m²; diện tích thửa đất 307 (325,4m² - 322,9m²) thừa 2,5m².
So sánh mốc giới các chiều cạnh của thửa đất 309 theo bản đồ VN 2000 với mốc giới hiện trạng đất thực tế ông H đang quản lý sử dụng sau khi áp bản đồ VN 2000, thể hiện: Thửa đất 309 theo bản đồ V1 có diện tích là 548,8m² theo mốc giới 1, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 33, 34, 35, 36, 37, 4, 3, 2, 1. Đối với thửa đất 307 do ông H1 quản lý, sử dụng không lấn sang thửa đất 309 do ông H quản lý, sử dụng. Ranh giới giữa hai thửa đất theo bản đồ VN 2000 được thể hiện rõ tại các điểm 1, 2, 3 ,4.
[4]. Đối với yêu cầu của nguyên đơn ông H, buộc bị đơn ông H1 phải bồi thường 2.210.000đồng giá trị búi tre của ông bị ông H1 đốt. Quá trình xác minh tại Ủy ban nhân dân xã H thể hiện: Năm 2022, Ủy ban nhân dân xã H và Công an xã H đã kiểm tra, xem xét đơn đề nghị của ông H. Tại thời điểm kiểm tra, búi tre đã bị đốt từ trước đó một thời gian dài, không có căn cứ để xác định người đốt nên không có căn cứ để giải quyết.
Tại cấp phúc thẩm ông H cung cấp tài liệu, chứng cứ là 01 USB trong đó ông H cho rằng ông H1 đốt búi tre của ông. Tuy nhiên Hội đồng xét xử đã tiến hành kiểm tra và xem xét đối với USB trên, thì trong video chỉ có hình ảnh búi tre đang bị cháy và hình ảnh một số người có mặt, hoàn toàn không thể hiện ai là người đốt; tại phiên tòa phúc thẩm bản thân ông H và vợ cho rằng ông H1 là người chủ mưu, chỉ đạo việc đốt bới tre, còn người trực tiếp châm lửa thực hiện việc đốt bới tre thì ông cũng không biết.
[5]. Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định không có việc ông H1 lấn chiếm phần diện tích 41,3m² theo chiều cạnh 1- 2- 3- 4- 5- 6- 7- 1, đồng thời không có căn cứ xác định ông H1 đốt búi tre của ông H là có căn cứ. Từ phân tích trên thấy rằng kháng cáo của ông H không có cơ sở chấp nhận.
[6]. Về chi phí tố tụng: Do yêu cầu khởi kiện không được chấp nhận, nên ông H phải chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá ngày 12/01/2024 là 5.400.000 đồng. Xác nhận ông H đã nộp đủ chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản.
[7]. Về án phí: Ông H là người cao tuổi, thuộc trường hợp được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8]. Ý kiến của đại diện Viện kiểm nhân dân tỉnh V về giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Thái H, giữ nguyên Bản án số 08/2024/DS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tam Dương.
Căn cứ khoản 6, 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165 của Bộ luật tố tụng dân sựCăn cứ vào các Điều 166, 175, 584, 585 và 589 của Bộ luật Dân sự; Điều 203 của Luật đất đai 2013; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thái H về việc buộc ông Nguyễn Xuân H1 phải trả lại phần đất lấn chiếm là 41,3m² và buộc ông H1 phải bồi thường 2.210.000đồng giá trị búi tre bị đốt. Ranh giới giữa hai thửa đất số 307 và 309 tờ bản đồ số 33 (Theo Bản đồ Vn 2000) tại thôn A, xã H, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc được giới hạn bởi các điểm 1, 2, 3, 4 (có sơ đồ kèm theo).
- Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Thái H phải chịu 5.400.000đ (Năm triệu bốn trăm nghìn đồng) chi phí xem xét thẩm định và định giá tài sản; xác nhận ông H đã nộp đủ.
- Về án phí: Miễn án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm cho ông Nguyễn Thái H.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Xuân Trọng |
Bản án số 104/2024/DS-PT ngày 26/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Số bản án: 104/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo của người kháng cáo
