|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 104/2024/HS-ST Ngày: 26-4-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Trường
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Phương Ly
Ông Trần Văn Thắng
- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thảo - Kiểm sát viên
Ngày 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Nam Định tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 100/2024/TLST-HS, ngày 12 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 100/2024/QĐXXST-HS, ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Chu Thị M, sinh năm 1972; tại: tỉnh Nam Định; nơi đăng ký thường trú: Số C Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; nơi ở: Số C Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định; số căn cước công dân: [...]; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Văn L và bà Phan Thị T; có chồng Nguyễn Viết V và 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 03-02-2024, chuyển tạm giam ngày 06-02-2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố N, đến ngày 01-4-2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”. (Bị cáo có mặt tại phiên toà).
- Bị hại: Anh Đỗ Công V1; sinh năm 1987; nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ 45 phút ngày 02-02-2024, Chu Thị M điều khiển xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 18B2 – 06356 từ nhà đến cửa hàng T1 tại địa chỉ số A Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định để mua hàng. Sau khi mua xong, M cầm túi đồ ra ngoài để lấy xe đi về. Khi ra đến khu vực bãi xe ở phía trước cửa hàng T1, M nhìn thấy phía bên trái xe của mình có dựng 01 chiếc xe máy Honda Vision màu đỏ, biển kiểm soát 18B1 – 92834 của anh Đỗ Công V1, sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã Đ, huyện N, tỉnh Nam Định, phần đầu xe quay vào cửa hàng T1, đuôi xe quay ra đường Đ. Tại vị trí móc treo hàng ở khu vực để chân của xe Vision có treo 01 túi giấy hình chữ nhật, màu xanh tím than, trên túi có chữ “Danisa”. Mùi nảy sinh ý định trộm cắp chiếc túi giấy trên nên đi đến đứng giữa hai chiếc xe máy, đặt túi đồ của mình lên yên xe Vision, M vừa đội mũ bảo hiểm của mình lên đầu, vừa quan sát xung quanh thấy không có ai chú ý nên M dùng tay phải cầm chiếc túi giấy trên treo sang móc treo hàng phía bên trái xe máy của mình, rồi treo túi đồ của mình ở bên ngoài túi giấy để tránh bị phát hiện. Sau đó, M nhanh chóng điều khiển xe rời khỏi hiện trường. Khi về đến nhà, M mở túi giấy vừa trộm cắp được, kiểm tra thấy bên trong có nắm xôi và miếng giò nên vất đi, còn phía dưới đáy túi có nhiều cọc tiền giấy và tiền Polime mệnh giá khác nhau do Ngân hàng N phát hành với tổng số tiền là 171.000.000 đồng. Thấy số lượng tiền lớn, M gọi chồng là ông Nguyễn Viết V ra xem. Ông V hỏi tiền ở đâu thì M nói dối là nhặt được. Ông V bảo M mang trả lại vì ngoài đường có camera an ninh, nhưng M không nghe mà mang túi tiền cất giấu dưới gầm giường phía trong nhà. Còn ông V sau đó đi ra ngoài do có việc cá nhân.
Đến khoảng 18 giờ 35 phút cùng ngày, anh Đỗ Công V1 đến Công an phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định để trình báo.
Tại cơ quan điều tra, Chu Thị M đã đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, đồng thời tự nguyện giao nộp 01 túi giấy màu xanh tím than có kích thước 28 x 30,5 x 9,5 cm, có chữ “Danisa” có hai quai xách bằng vải màu vàng, bị rách ở một cạnh túi, bên trong bao gồm 01 cọc tiền mệnh giá 1.000 đồng bọc trong lớp ni lông, mặt trên có tờ giấy ghi chữ “Ngân hàng N loại bạc 1.000 đồng gói bạc 1000 tờ thành tiền 1.000.000 đồng”; 01 cọc tiền mệnh giá 10.000 đồng bọc trong lớp ni lông, mặt trên có tờ giấy ghi chữ “Ngân hàng N loại bạc 10.000 đồng gói bạc 1000 tờ thành tiền 10.000.000 đồng”; 03 cọc tiền đều có mệnh giá 50.000 đồng, mỗi cọc đều được bọc trong lớp ni lông, mặt trên có tờ giấy ghi chữ “Ngân hàng N loại bạc 50.000 đồng gói bạc 1000 tờ thành tiền 50.000.000 đồng”, tổng cộng 03 cọc là 150.000.000 đồng; 05 thếp tiền, mỗi thếp gồm 100 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng, tổng cộng là 5.000.000 đồng; 01 thếp tiền gồm 100 tờ tiền mệnh giá 50.000 đồng thành tiền là 5.000.000 đồng (tổng số tiền là 171.000.000 đồng); 01 chiếc xe máy Honda Wave biển kiểm soát 18B2 – 063.56 và trang phục M đã sử dụng khi thực hiện trộm cắp tài sản.
Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố N đã trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định 02 đoạn video được trích xuất từ camera khu vực hiện trường vụ án và tại nhà của Chu Thị M. Bản kết luận giám định số 580/KL-KTHS ngày 19-3-2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: Không phát hiện thấy dấu vết bị cắt ghép, chỉnh sửa nội dung trong toàn bộ mẫu cần giám định.
Cáo trạng số 105/CT-VKS ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định truy tố Chu Thị M về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định giữ quyền công tố và luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 173, điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tuyên bố bị cáo Chu Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- - Xử phạt bị cáo từ 33 tháng tù đến 36 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách không quá 05 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26-4-2024. Bị cáo có thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-02-2024 đến ngày 01-4-2024.
Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- - Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy 01 áo khoác màu đen; 01 áo vải cộc tay màu đỏ; 01 quần vải dài, màu đen; 01 đôi dép màu đen; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu trắng; 01 túi giấy màu xanh tím than.
Bị cáo Chu Thị M nói lời sau cùng: bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Chu Thị M và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về tội danh:
Lời khai nhận tội của bị cáo Chu Thị M trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa hôm nay phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác như: Đơn trình báo và lời khai của bị hại; Biên bản thu giữ và trao trả tài sản cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 18 giờ ngày 02-02-2024, tại khu vực để xe của cửa hàng T1, địa chỉ số A Đ, phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định, lợi dụng việc anh Đỗ Công V1 treo túi giấy nhãn hiệu Danisa bên trong có đựng tiền tại móc treo đồ xe máy, không có người trông coi, bị cáo Chu Thị M đã lén lút cầm chiếc túi đựng tiền treo lên xe máy của mình rồi mang về nhà. Số tiền chứa trong chiếc túi bao gồm nhiều mệnh giá, tổng cộng là 171.000.000 đồng của anh Đỗ Công V1.
Hành vi của bị cáo Chu Thị M là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bản thân bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng chỉ vì mục đích tư lợi, bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 171.000.000 đồng nên bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
[3] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi sự việc xảy ra bị cáo đã ra đầu thú vào hồi 23 giờ 05 phút ngày 02-02-2024; bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả; thành khẩn khai báo nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Chu Thị M không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[4] Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo Chu Thị M gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đối với an ninh trật tự trên địa bàn thành phố N, vì vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo Chu Thị M có nhân thân tốt và được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo tại địa phương nên Hội đồng xét xử thấy rằng có thể cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện theo quy định của Điều 65 Bộ luật Hình sự, đồng thời ấn định thời gian thử thách và giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giáo dục theo quy định của pháp luật.
[5] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo Chu Thị M không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vấn đề dân sự:
- Đối với số tài sản bị trộm cắp trong vụ án, cơ quan điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là anh Đỗ Công V1, anh V1 đã nhận lại và không có đề nghị gì.
- Chiếc xe máy Honda Wave, biển kiểm soát 18B2 – 063.56 là tài sản thuộc sở hữu riêng của ông Nguyễn Viết V, ông V không biết M sử dụng chiếc xe trên để đi trộm cắp tài sản nên cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho ông V.
[7] Về xử lý vật chứng:
- 01 (một) áo khoác màu đen, có mũ, trên áo có chữ “JINLONGKE”; 01 (một) áo vải cộc tay, màu đỏ, trên áo có họa tiết hoa màu trắng vàng; 01 (một) quần vải dài, màu đen; 01 (một) dôi dép màu đen, có chữ “FASHION”; 01 (một) mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu trắng vàng, trên mũ có in hình chữ “Smile”; 01 (một) túi giấy màu xanh tím than, kích thước 28x30,5x9,5 cm, chữ “Danisa”, có hai quai xách bằng vải màu vàng, bị rách ở một cạnh túi, đã qua sử dụng, xét không còn giá trị cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí:
Bị cáo Chu Thị M bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b,s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2017.
Tuyên bố: Bị cáo Chu Thị M phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Chu Thị M 03 (ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 05 (năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 26-4-2024. Bị cáo có thời gian bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 03-02-2024 đến ngày 01-4-2024.
Giao bị cáo Chu Thị M cho Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Chu Thị M cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo Chu Thị M phải chấp hành hình phạt 03 (ba) năm tù đã cho hưởng án treo.
-
Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo khoác màu đen, có mũ, trên áo có chữ "JINLONGKE”, đã qua sử dụng; 01 (một) áo vải cộc tay, màu đỏ, trên áo có họa tiết hoa màu trắng vàng, đã qua sử dụng; 01 (một) quần vải dài, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) dôi dép màu đen, có chữ “FASHION”, đã qua sử dụng; 01 (một) mũ bảo hiểm lưỡi trai, màu trắng vàng, trên mũ có in hình chữ “Smile”, đã qua sử dụng; 01 (một) túi giấy màu xanh tím than, kích thước 28x30,5x9,5 cm, chữ “Danisa”, có hai quai xách bằng vải màu vàng, bị rách ở một cạnh túi, đã qua sử dụng.
(Số vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng số 186/YCN/2024, ngày 15-4-2024).
- Án phí: Bị cáo Chu Thị M phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
-
Quyền kháng cáo: Bị cáo Chu Thị M được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại là anh Đỗ Công V1 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Trường |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 26/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chu Thị Mùi TCTS
