|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2024/HS-ST Ngày 25 tháng 9 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Ngọc Hà.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thanh Phương, bà Trương Thị Bích Tuyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Hà Tuyết Nhung, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Chí Hải, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 92/2024/HSST ngày 05 tháng 9 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 99/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn B, sinh năm 2000, tại huyện A, An Giang; nơi đăng ký thường trú: tổ D, ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị Tím E, năm sinh 1977; anh, chị, em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 21/6/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Phan Trần Diễm Q1, sinh năm 1996, nơi cư trú: Số A đường T, khóm V, phường V, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Nguyễn Tấn P, sinh năm 1991; nơi cư trú: Số C, P, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Nguyễn Văn Q, sinh năm 1977; nơi cư trú: ấp P, xã P, huyện A, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Trần Thị K, sinh năm 1960; nơi cư trú: tổ F, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
- Nguyễn Hoàng G, sinh năm 1994; nơi cư trú tổ A, khóm V, phường N, thành phố C, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng: Nguyễn Quốc T, sinh năm 1998; Nguyễn Vũ H, sinh năm 1990; Quách Q2, sinh năm 1997, cùng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ ngày 10/06/2024, Nguyễn Văn B đi đến nhà trọ của Quách Q2 để chơi và nhờ Q2 chở B đến cửa hàng Đ để mua điện thoại di động trả góp. B lợi dụng lúc Nguyễn Quốc T là nhân viên cửa hàng và Q2 đang nói chuyện với nhau, B lén lút mở cửa kính lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C65 cất giấu vào người và chọn mua 01 cục sạc điện thoại rồi tính tiền cục sạc kêu Q2 chở ra về. B đi đến nhà trọ “Anh Anh 2” thuê phòng ngủ qua đêm. Sáng hôm sau, do không có tiền để trả tiền nhà nghỉ nên B nhờ Nguyễn Vũ H (làm thuê tại nhà nghỉ) chở B đi kiếm chỗ bán điện thoại, H điện thoại nói cho Trần Thị K biết thì K mua lại, K đưa cho bị cáo B 1.800.000 đồng (trừ lại 200.000 đồng tiền thuê phòng). Ngày 12/06/2024, Phan Trần Diễm Q1 (là quản lý cửa hàng Đ phường N) tiến hành kiểm tra hệ thống Camera, phát hiện điện thoại Realme C65 trong tủ trưng bày bị mất, trích xuất hình ành phát hiện Nguyễn Văn B là người lấy trộm nên Q1 đến Công an phường N trình báo. B đến Cơ quan Công an đầu thú và thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Realme C65, màu đen, Ram 8GB, dụng lượng 128Gb; 01 xe mô tô biển số 67E1-047.35; 01 áo thun tay ngắn, màu đen; 01 áo sơ mi tay dài, màu vàng, sọc carô màu đen; 01 quần tây ngắn màu đen; 01 nón kết màu đen; 01 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh bị can Nguyễn Văn B lấy trộm vào ngày 10/6/2024.
Căn cứ Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 1586/KL-ĐG ngày 25/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, ghi nhận: 01 điện thoại di động hiệu Realme, màu đen, Ram 8GB, dung lượng 128Gb, hàng mới trong cửa hàng, trị giá 4.290.000 đồng.
Ngày 26/6/2024 Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C khởi tố vụ án, khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn B về hành vi “Trộm cắp tài sản”.
Cáo trạng số 84/CT-VKSCĐ-HS ngày 04/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo B khai nhận hành vi lén lút trộm tài sản như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử: áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt bổ sung, do bị cáo không có nghề nghiệp nên đề nghị không áp dụng. Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường nên không đề cập giải quyết. Đề nghị tiếp tục lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh bị cáo Nguyễn Văn B lấy trộm; tịch thu, tiêu hủy quần, áo, nón không còn giá tị sử dụng. đối với 01 xe mô tô biển số 67E1-047.35 đã trao trả cho Nguyễn Hoàng G và 01 điện thoại di động hiệu Realme C65 đã trả cho ông Nguyễn Văn Q nên không đề cập giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, lời nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, Kiểm sát viên được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục được pháp luật tố tụng hình sự quy định. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện đúng quy định của pháp luật.
[2] Bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tuy nhiên, đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 quyết định vẫn tiến hành xét xử.
[3] Về hành vi phạm tội
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn B thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng truy tố. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo, bị hại tại giai đoạn điều tra, vật chứng thu giữ, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, Kết luận định giá tài sản cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập, có căn cứ xác định: Vào ngày 10/6/2024, B lợi dụng bị hại không để ý nên đã lén lút trộm cắp 01 điện thoại di động hiệu Realme C65, màu đen, Ram 8GB, dụng lượng 128Gb của cửa hàng Đ do chị Q1 là người quản lý, trị giá 4.290.000 đồng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đó là vi phạm pháp luật, nếu bị phát hiện sẽ bị xử lý, nhưng vì lười lao động, muốn có tiền tiêu xài một cách nhanh chóng nên bị cáo cố ý thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trị giá 4.290.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc truy tố bị cáo ra trước phiên tòa hôm nay và lời buộc tội của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc tại phiên tòa là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật, cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, để đảm bảo mục đích răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, thuộc thành phần lao động, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo có thái độ ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo, nhất thời phạm tội, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện bồi thường và khắc phục hậu quả, là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5] Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự, đối với 01 xe mô tô biển số 67E1-047.35 đã trao trả ông Nguyễn Hoàng G, 01 điện thoại di động hiệu Realme C65 đã trả cho ông Nguyễn Văn Q nên không đề cập xem xét giải quyết. Đối với 01 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh bị cáo Nguyễn Văn B lấy trộm, tiếp tục lưu hồ sơ vụ án. Tịch thu tiêu hủy quần, áo, nón không còn giá trị sử dụng.
[7] Về trách nhiệm dân sự, bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.
[8] Về án phí, bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/6/2024.
2. Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, lưu hồ sơ vụ án 01 đĩa DVD ghi nhận lại hình ảnh ngày 10/6/2024. Tịch thu tiêu hủy quần, áo, nón không còn giá trị sử dụng (Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2024 giữa cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).
3. Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Căn cứ vào Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của bị hại, người có quyền, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trịnh Thị Ngọc Hà |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 25/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (hình sự)
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt Nguyễn Văn B 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam, ngày 21/6/2024
