|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC TỈNH LÂM ĐỒNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2023/HS-ST Ngày: 25-8-2023. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Đức Công.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Tuấn Tú và ông Hoàng Xuân Tỵ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Khắc Cường là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thông - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 105/2023/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2023/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Thị P, tên gọi khác: Ú, sinh năm 1969, tại tỉnh Lâm Đồng; nơi đăng ký thường trú: Tổ I, phường L, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng và nơi cư trú: Khu phố P, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Thiên chúa; trình độ văn hóa: 06/12; nghề nghiệp: Nội trợ; con ông Phan N, sinh năm 1914 (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1932 (đã chết); có chồng Trần Văn T1, sinh năm 1966 (đã ly hôn), con: Có 02 con, con lớn nhất sinh năm 1988, con nhỏ nhất sinh năm 1996; tiền án, tiền sự: Không.
Về nhân thân:
- - Ngày 25/12/2007, Phan Thị P bị Tòa án nhân dân thị xã Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án số 97/2007/HSST, hiện đã được xóa án tích.
- - Ngày 20/10/2009, Phan Thị P bị Công an phường L, thị xã B, tỉnh Lâm Đồng xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi xâm hại sức khỏe người khác, đã được xóa.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1962; địa chỉ: Số B Chung cư L, khu nhà ở T, Phường E, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh. Có mặt.
- - Bà Nguyễn Thị Bích V, sinh năm 1965; địa chỉ: Đường Q, Tổ A, phường B, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- - Bà Bùi Thị Kim T2, sinh năm 1964; địa chỉ: Số G P, Phường A, thành phố B, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào năm 2001, Phan Thị P nhận chuyển nhượng bằng hình thức viết tay từ bà Ka N1, sinh năm 1969, nơi cư trú: tổ I, phường L, thành phố B diện tích đất khoảng 100m², thuộc một phần thửa đất số 68, tờ bản đồ 27, tọa lạc tại tổ I, phường L, thành phố B. Đến năm 2010, do công việc làm ăn gặp nhiều khó khăn nên P nói chuyện với Nguyễn Hoàng T3 (là người sống chung như vợ chồng với P, hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) và một người tên B (là bạn của T3, chưa rõ nhân thân, lai lịch) về việc muốn vay vốn làm ăn nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên nên không thế chấp vay tiền Ngân hàng được. Nghe vậy, B nói với P để B nhờ người làm dịch vụ cho nhanh thì P đồng ý. B nói bên nhận làm dịch vụ là 6.000.000 đồng và phải đưa trước cho họ 3.000.000 đồng, số tiền còn lại sẽ thanh toán khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Khoảng vài ngày sau, P đưa cho B 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 sổ hộ khẩu gia đình, 01 tờ trích lục bản đồ thửa đất (tất cả là bản photo) và số tiền 3.000.000 đồng. Khoảng 02 tháng sau, B đưa cho P 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 868628, mang tên “Hộ bà: Phan Thị P”, thửa đất số 1F68, tờ bản đồ số 27, tọa lạc tại tổ I, khu I, phường L, sau đó P thanh toán số tiền 3.000.000 đồng còn lại cho B. Đến ngày 26/11/2010, P đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Nguyễn Thị Kim H, sinh năm 1962, nơi cư trú: tổ I, phường L, thành phố B để vay số tiền là 100.000.000 đồng. Ngày 01/4/2011, P đặt vấn đề chuyển nhượng thửa đất trên cho bà H với giá 200.000.000 đồng, kèm điều kiện nếu trong vòng 01 năm Phước trả đủ tiền thì bà H cho P chuộc lại thửa đất thì bà H đồng ý. Phan Thị P và bà H viết giấy bán nhà đề ngày 04/4/2011, bà H đưa cho P 100.000.000 đồng, số tiền 100.000.000 đồng còn lại thì trừ vào khoản nợ mà P vay trước đó. Sau đó do nghi ngờ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của P là giả, ngày 06/4/2011, bà H mang giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nói trên đến UBND thành phố Bảo Lộc để nhờ kiểm tra thì phát hiện giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả, bị UBND thành phố B tạm giữ và báo cho Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc xử lý. Đối với Phan Thị P, sau khi được bà H thông báo về việc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên là giả thì Phan Thị P đã bỏ đi khỏi địa phương.
Tại bản kết luận giám định số 520/GĐ-PC54 ngày 15/7/2011 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Hình dấu tròn có nội dung “U.B.N.D THÀNH PHỐ BẢO LỘC – TỈNH LÂM ĐỒNG” trên tài liệu đóng dấu PC số 520 năm 2011 TLCGÐ: A với hình dấu mẫu có cùng nội dung trên tài liệu đóng dấu PC số 520 năm 2011 TLMSS: M không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Tại Kết luận giám định số 842/KL-KTHS ngày 21/7/2023 của Phòng K Công an tỉnh L kết luận: Chữ ký mang họ tên Nguyễn Quốc B1 trên tài liệu cần giám định ký hiệu A so với chữ ký mang họ tên Nguyễn Quốc B1 trên các tài liệu mẫu so sánh ký hiệu M1, M2, M3 không phải do cùng một người ký ra.
Kết quả làm việc với Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L ngày 06/7/2023 xác định: Hiện nay không còn lưu giữ mẫu phôi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào thời điểm năm 2010.
Bản Cáo trạng số 117/CT-VKSBL, ngày 27 tháng 7 năm 2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo Phan Thị P về tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
- + Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phan Thị P phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 38 và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Thị P từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Miễn hình phạt bổ sung.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, cơ quan Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã thu giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 868628, đề tên chủ sở hữu: Phan Thị P, sinh năm 1969, CMND: [...]. Đây là chứng cứ chứng minh tội phạm, lưu hồ sơ vụ án, đề nghị tịch thu tiêu hủy.
- Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
- + Bị cáo P khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội đúng như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì về bản Cáo trạng và không tranh luận đối đáp gì với kiểm sát viên.
- + Bị cáo P nói lời sau cùng: Nhận thức được hành vi phạm tội là vi phạm pháp luật, là sai trái và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ và xử phạt cho bị cáo mức hình phạt nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên thuộc Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Hành vi cấu thành tội phạm: Hội đồng xét xử nhận thấy, tại phiên tòa bị cáo Phan Thị P đã khai và thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai trong quá trình điều tra; nội dung bản Cáo trạng đã truy tố; luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa; nội dung bản Kết luận điều tra; nội dung kết luận giám định; lời khai của những người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ chứng minh đã được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự qui định và đã được kiểm tra tại phiên tòa.
Như vậy, có đủ căn cứ kết luận: Bị cáo Phan Thị P bị bắt trong trường hợp bị truy nã. Để có tiền trả nợ, vào năm 2010, Phan Thị P đã sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC868628 do UBND thành phố B, tỉnh Lâm Đồng cấp ngày 05/10/2010 mang tên “Hộ bà: Phan Thị P là giả để tạo lòng tin vay tiền của bà Nguyễn Thị Kim H và thỏa thuận chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà H.
Hành vi của bị cáo Phan Thị Phước p vào tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, đến hoạt động bình thường, đúng đắn của các cơ quan Nhà nước, tổ chức, xâm phạm lợi ích của nhà nước, tổ chức và cá nhân. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì thái độ xem thường pháp luật và nhằm thỏa mãn nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Bị cáo thực hiện tội phạm ít nghiêm trọng, gây mất trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về nhân thân: Bị cáo đã bị kết án ngày 25/12/2007, đã bị xử phạt vi phạm hành chính ngày 20/10/2009. Đã được xóa có thời hạn trên 06 tháng trở lên.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai, ăn năn hối cải; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Vì vậy, cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
[7] Căn cứ vào qui định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy, cần cách ly khỏi xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra.
[8] Về hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
[9] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, xử lý như sau:
Quá trình điều tra, cơ quan Công an thành phố B, tỉnh Lâm Đồng đã thu giữ 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 868628, đề tên chủ sở hữu: Phan Thị P, sinh năm 1969, CMND: [...]. Đây là chứng cứ chứng minh tội phạm, lưu hồ sơ vụ án.
[10] Về bồi thường thiệt hại: Áp dụng Điều 48 Bộ luật hình sự xử lý như sau: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Phan Thị P và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Kim H, bà Nguyễn Thị Bích V và bà Bùi Thị Kim T2 đã tự thỏa thuận với nhau về trách nhiệm dân sự nên không xem xét.
[11] Các vấn đề khác: Đối với đối tượng tên B, người đã nhận làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị cáo P, hiện nay chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng B nên Cơ quan Công an thành phố Bảo Lộc tách ra tiếp tục xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.
[12] Xét ý kiến trình bày luận tội và quan điểm giải quyết vụ án của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, đã được kiểm tra tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận.
[13] Về chi phí tố tụng: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phan Thị P phạm tội “Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Áp dụng khoản 1 Điều 341; Điều 38 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Phan Thị P, tên gọi khác là Ú 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án. Được trừ thời hạn tạm giữ từ ngày 23/12/2022 đến ngày 29/12/2022.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội qui định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Phan Thị P phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Đức Công |
Bản án số 104/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG về sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 104/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng con dấu hoặc tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lam gia con dau, tai lieu
