TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2023/HNGĐ-ST Ngày 04-12-2023 V/v tranh chấp “Xin ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Khánh
- Các Hội thẩm nhân dân.
Bà Tạ Huyền Thanh
Ông Vũ Xuân Chính
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Tú Hương là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Ngày 04 tháng 12 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 216/2023/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 20 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Phạm Thu S, sinh năm 1984 (xin vắng).
Địa chỉ: Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.
Bị đơn: Ông Tạ Đông X, sinh năm 1972 (xin vắng).
Địa chỉ: Ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn trình bày yêu cầu:
- Về hôn nhân: Vào năm 2007 qua thời gian tìm hiểu nên bà S và ông X tiến đến hôn nhân, hôn nhân tự nguyện có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán địa phương, nhưng đến nay vợ chồng bà vẫn chưa đăng ký kết hôn.
Sau khi thành hôn vợ chồng bà sống hạnh phúc đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung nên thường xuyên cải nhau dẫn đến hôn nhân không hạnh phúc.
Vợ chồng sống ly thân từ tháng 10 năm 2020 đến nay. Trong thời gian ly thân vợ chồng có hàn gắn hôn nhân nhưng không đạt kết quả. Nay tình cảm vợ chồng không thể tồn tại, đời sống chung không đạt hạnh phúc nên bà S yêu cầu ly hôn với ông Tạ Đông X.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Tấn P (N), sinh ngày 28/7/2012. Từ khi sống ly thân thì Tấn P sống với bà S nên khi ly hôn bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi con, không yêu cầu ông X cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án bị đơn trình bày yêu cầu:
- Về hôn nhân: Thời điểm kết hôn như bà S trình bày là đúng. Sau khi cưới vợ chồng ông bà sống hạnh phúc nhưng từ năm 2020 thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên ông bà sống ly thân. Trong thời gian ly thân ông có hàn gắn hôn nhân với bà S nhưng bà S không đồng ý. Nay bà S cương quyết ly hôn thì ông đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Tấn P (N), sinh ngày 28/7/2012. Từ khi sống ly thân thì Tấn P sống với bà S, nay bà S yêu cầu được tiếp tục nuôi con sau khi ly hôn thì ông đồng ý, việc cấp dưỡng nuôi con không đặt ra.
- Về tài sản chung: Ông Xuân tự thỏa thuận, phân chia với bà S nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về công nợ: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
Bà Phạm Thu S yêu cầu ly hôn với ông Tạ Đông X, đây là tranh chấp xin ly hôn quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; ông Tạ Đông X có nơi cư trú tại ấp Ô, xã Đ, huyện N, tỉnh Cà Mau nên theo quy định tại Điều 35 và Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.
Bà Phạm Thu S và ông Tạ Đông X có đơn xin xét xử vắng mặt, yêu cầu này của bà S và ông X là chính đáng và phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[2] Về nội dung vụ án:
- Về hôn nhân: Bà Phạm Thu S và ông Tạ Đông X thành hôn nhau vào năm 2007 đến nay chưa đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền.
Quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xuyên bất hòa do bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Bà S và ông X sống ly thân từ năm 2020 đến nay, trong thời gian ly thân giữa hai đương sự vẫn không khắc phục được mâu thuẫn.
Hội đồng xét xử xét thấy việc bà S và ông X chung sống với nhau như vợ chồng mà không đi đăng ký kết hôn đã vi phạm Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình. Do đó, hôn nhân của bà S và ông X không có giá trị pháp lý, không làm phát sinh
quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 14 và khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thu S và ông Tạ Đông X.
- Về con chung: Có 01 người con chung tên Tạ Tấn P (N), sinh ngày 28/7/2012. Tại biên bản ghi lời trình bày của đương sự cháu Tấn P có nguyện vọng sống với mẹ. Do đó, Hội đồng xét xử tôn trọng nguyện vọng của cháu Tấn P giao cháu Tạ Tấn P (N), sinh ngày 28/7/2012 cho bà S trực tiếp chăm sóc và nuôi dưỡng là phù hợp.
Ông X không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Các đương sự tự thỏa thuận và không yêu cầu Tòa án giải quyết, căn cứ vào Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự “Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó”, do đương sự không đặt ra yêu cầu nên không xem xét là có cơ sở.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch, bà S phải chịu 300.000 đồng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bà S được đối trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp.
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 53 của Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Phạm Thu S và ông Tạ Đông X.
- Về con chung: Giao cháu Tạ Tấn P (N), sinh ngày 28/7/2012 cho bà S trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
Ông X không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng, tài sản chung và công nợ: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm không có giá ngạch 300.000 đồng bà Phạm Thu S phải chịu. Ngày 19 tháng 10 năm 2023, bà S đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0016309 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn được đối trừ, bà S không phải nộp thêm.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Minh Khánh |
Bản án số 104/2023/HNGĐ-ST ngày 04/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về xin ly hôn
- Số bản án: 104/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Xin ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/12/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xét xử
