Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN NGÔ QUYỀN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày 24-5-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Vũ Văn Khang

Bà Nguyễn Thị Tư

- Thư ký phiên toà: Bà Lê Thị Thu Trang - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Đoàn Quảng Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 93/2024/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 241/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, Thông báo v/v thay đổi thời gian mở phiên tòa số 248/TB-TA ngày 03 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 275/2024/HSST-QĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị V, sinh ngày 31 tháng 10 năm 1990 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Số I đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số E đường L, phường C, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Lê Thị H; có chồng là Phạm Tiến H1 và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ ngày 17/10/2023, tạm giam ngày 26/10/2023; có mặt.
  2. Phạm Đức T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 1997 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Thôn A, xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nơi tạm trú: Số A đường B xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Quốc H2 và bà Bá Thị M; chưa từng đăng ký kết hôn, có 01 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 17/10/2023 đến ngày 26/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.
  3. Nguyễn Thanh B, sinh ngày 25 tháng 02 năm 1991 tại Hải Phòng; nơi thường trú: Q, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng (số mới I Q, phường P, quận K, thành phố Hải Phòng); nơi tạm trú: Số B đường N, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn V1 và Lê Thị Thanh X; có vợ là Nguyễn Thị H3 (đã ly hôn) và 02 con; tiền án, tiền sự: không; bị tạm giữ từ ngày 17/10/2023 đến ngày 26/10/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 17/10/2023 tại nhà số E đường L, phường C, quận N, Hải Phòng, Công an quận N bắt quả tang Nguyễn Thị V đang sử dụng điện thoại để kiểm tra tin nhắn chuyển bảng số lô, đề đến nhóm zalo “C Louis”. Thu giữ của V 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 promax.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thị V khai nhận: Do không có việc làm, thu nhập nên V thuê Phạm Đức T bán số lô, đề cho khách chơi trực tiếp rồi chuyển cho V. V trả công cho T từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng/ngày. Ngày 17/10/2023, T đã chuyển cho V bảng số lô, đề với tổng số tiền là 19.220.000 đồng. Ngoài ra, ngày 15/10/2023, V nhận ghi số lô, đề trực tiếp của Nguyễn Thanh B với tổng số tiền là 39.000.000 đồng.

Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Phạm Đức T, Nguyễn Thanh B.

Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo khai nhận:

Các bị can thống nhất cách thức đánh bạc dưới hình thức lô đề như sau: Căn cứ vào kết quả xổ số Miền Bắc mở thưởng vào 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút hàng ngày để trả thưởng cho khách. Nếu khách trúng đề (số khách đánh trùng với 02 số cuối giải đặc biệt) thì thắng số tiền gấp 90 lần số tiền đánh ban đầu; nếu khách trúng ba càng (số khách đánh trùng với 3 số cuối giải đặc biệt) thì thắng số tiền gấp 450 lần số tiền đánh ban đầu; nếu khách trúng bao (số khách đánh trùng với 02 số cuối của các giải mở thưởng) thì thắng số tiền gấp 3,5 lần số tiền đánh ban đầu; nếu khách trúng bao xiên 2 thì thắng số tiền gấp 15 lần số tiền đánh ban đầu; nếu khách trúng bao xiên 3 thì thắng số tiền gấp 48 lần số tiền đánh ban đầu. Người trúng thưởng đến lĩnh thưởng trực tiếp từ người bán đề, người bán đề ứng tiền của mình ra trả cho khách trước rồi thanh toán trực tiếp tiền bù, thu (sau khi đã trừ % hoa hồng) với chủ đề vào ngày hôm sau. Làm xong ngày nào V, T xóa hết thông tin trong điện thoại, hủy các tài liệu liên quan ngày hôm đó để tránh bị phát hiện.

Hàng ngày, Phạm Đức T ngồi ghi số lô, đề cho khách qua đường tại khu vực trước cửa nhà số B đường L, phường H, quận L, Hải Phòng, rồi sử dụng tài khoản zalo “T L” chuyển bảng số lô, đề đến tài khoản zalo “Louis” của V. Sau đó, V tập hợp bảng số lô, đề rồi chuyển đến nhóm zalo “C Louis” cho đối tượng Hoàng A (chưa rõ

2

nhân thân, lai lịch) để hưởng % hoa hồng như sau: 7% tổng số đề; 5% tổng số bao; 20% tổng số bao xiên; 20% tổng số tiền ba càng. Ngày 17/10/2023, T ghi và chuyển bảng số lô, đề cho V với tổng số tiền là 19.220.000 đồng, V tự ghi số lô, đề của khách chơi trực tiếp với tổng số tiền là 3.323.000 đồng. V tập hợp bảng số lô, đề chuyển cho Hoàng A với tổng số tiền là 22.543.000 đồng (9.220.000 đồng tiền số đề, 8.000.000 đồng tiền số bao, 5.257.000 đồng tiền số xiên, 66.000 đồng tiền số ba càng), hưởng lợi % hoa hồng là 2.110.000 đồng. Trong bảng số đề T chuyển cho V có 02 người chơi trúng số đề với số tiền trúng thưởng là 7.650.000 đồng, 01 người chơi trúng số bao với số tiền trúng thưởng là 1.750.000 đồng. Trong bảng số đề V chuyển cho Hoàng A có 01 người trúng số bao xiên 2 với số tiền trúng thưởng là 1.650.000 đồng. V, T, Hoàng A chưa thanh toán tiền cho nhau thì bị cơ quan Công an phát hiện, bắt giữ.

Ngày 15/10/2023, Nguyễn Thanh B sử dụng ứng dụng Telegram ghi số lô, đề của V với tổng số tiền là 39.000.000 đồng (34.000.000 đồng tiền số bao xiên, 5.000.000 đồng tiền số đề). V chuyển toàn bộ số lô, đề B chơi đến nhóm zalo “C Louis”, hưởng lợi % hoa hồng là 7.150.000 đồng. Không có số lô, đề nào trúng thưởng, B đã thanh toán tiền trực tiếp cho V.

Tài liệu sao chụp nội dung tin nhắn từ điện thoại của Nguyễn Thị V phù hợp với dữ liệu điện tử trích xuất kèm theo bản Kết luận giám định điện thoại số 891 ngày 05/01/2024 của Phòng K1 Công an thành phố H.

Bản Cáo trạng số 96/CT-VKSNQ ngày 11/4/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo Nguyễn Thị V, Phạm Đức T về tội “Tổ chức Đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Nguyễn Thanh B về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

- Kiểm sát viên tại phiên tòa: Giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V mức án từ 18 đến 24 tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc.

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đức T từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Tổ chức đánh bạc, thời gian thử thách từ 30 đến 36 tháng.

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thanh B từ 50.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng về tội Đánh bạc.

Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với các bị cáo Nguyễn Thị VPhạm Đức T.

3

Do bị cáo T bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo T.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 promax thu giữ của Nguyễn Thị V là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; Số tiền 7.150.000 đồng của bị cáo V và số tiền 500.000 đồng của bị cáo T là tiền thu lợi bất chính, các bị cáo V, T mỗi bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; buộc bị cáo V tiếp tục phải nộp lại số tiền 6.650.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 50.000.000 đồng bị cáo B tự nguyện nộp trước khi xét xử cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và tội danh như Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền đã truy tố là đúng. Các bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Bị cáo B đã nộp số tiền 50.000.000 đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền để đảm bảo khả năng thi hành án phạt tiền.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận N, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa các bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, phù hợp với vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa đã có đủ cơ sở xác định: Nguyễn Thị V có hành vi bán (ghi) nhận, chuyển số lô, đề được thua bằng tiền và hưởng chênh lệch % hoa hồng; cụ thể: Ngày 15/10/2023, tổng số tiền đánh bạc là 39.000.000 đồng, hưởng lợi 7.150.000 đồng và ngày 17/10/2023 tổng số tiền đánh bạc là 33.593.000 đồng, dự kiến hưởng lợi 2.110.000 đồng. Phạm Đức T có hành vi bán (ghi), chuyển số lô, đề được thua bằng tiền ngày 17/10/2023 với tổng số tiền đánh bạc là 28.620.000 đồng, được trả công 200.000 đồng. Nguyễn Thanh B có hành vi đánh bạc

4

được thua bằng tiền dưới hình thức chơi (mua) số lô, đề ngày 15/10/2023 với tổng số tiền đánh bạc là 39.000.000 đồng. Các bị cáo là người có đầy đủ khả năng điều khiển hành vi và nhận thức được việc tổ chức đánh bạc và đánh bạc dưới hình thức bán số lô, số đề và chơi (mua) số lô đề là vi phạm pháp luật nhưng do ham thu lợi bất chính nên vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị VPhạm Đức T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thanh B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an tại địa phương, làm ảnh hưởng đến cuộc sống của nhiều gia đình, tạo dư luận xấu trong quần chúng nhân dân nên cần xét xử nghiêm nhằm mục đích giáo dục, cải tạo đối với các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về nhân thân: Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo B, T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo V phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo B phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên bị cáo B được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo V và bị cáo T mỗi bị cáo đều đã tự nguyện giao nộp lại ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng thu lợi bất chính nên các bị cáo V, T được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[7] Về vai trò: Các bị cáo Nguyễn Thị VPhạm Đức T đều thực hiện hành vi tổ chức đánh bạc, trong đó bị cáo Phạm Đức T là người giúp sức cho bị cáo V trong việc tổ chức đánh bạc nhằm hưởng thù lao; cụ thể: Thụ trực tiếp ghi số lô đề cho người chơi sau đó chuyển lại cho bị cáo V. Bị cáo V nhận bảng lô đề từ bị cáo T và trực tiếp bán số lô đề; sau đó chuyển bảng cho đối tượng Hoàng A để hưởng hoa hồng. Bị cáo T phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền tổ chức đánh bạc là 28.620.000 đồng; bị cáo V phải chịu trách nhiệm hình sự với số tiền tổ chức đánh bạc là 72.593.000 đồng nên bị cáo V phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo T.

[8] Bị cáo B thực hiện hành vi độc lập. Hành vi của bị cáo bị xét xử về tội Đánh bạc với số tiền đánh bạc là 39.000.000 đồng nên mức án hình phạt là thấp nhất trong vụ án.

5

[9] Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò, nhân thân và số tiền các bị cáo phạm tội, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo V buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đối với bị cáo T phạm tội lần đầu, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nên có thể xem xét áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự, khoan hồng cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội. Đối với bị cáo B phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tự nguyện nộp số tiền 50 triệu đồng để đảm bảo khả năng thi hành án phạt tiền nên có thể xem xét áp dụng Điều 35 Bộ luật Hình sự, xử phạt tiền đối với bị cáo cũng đủ tác dụng để giáo dục, cải tạo bị cáo đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật xã hội chủ nghĩa.

[10] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, bị cáo VT còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 3 Điều 322 Bộ luật Hình sự nhưng xét các bị cáo VT không có tài sản riêng, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đối với bị cáo B do đã bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 32; khoản 3 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

[11] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 promax thu giữ của Nguyễn Thị V là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội; Số tiền 7.150.000 đồng của bị cáo V và số tiền 500.000 đồng của bị cáo T là tiền thu lợi bất chính, các bị cáo V, T mỗi bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền 500.000 đồng nên tịch thu nộp ngân sách Nhà nước; buộc bị cáo V tiếp tục phải nộp lại số tiền 6.650.000 đồng để nộp ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 50.000.000 đồng bị cáo B tự nguyện nộp trước khi xét xử cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[12] Cần hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với các bị cáo Phạm Đức T và bị cáo Nguyễn Thanh B đang thực hiện theo điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự.

[13] Đối với đối tượng Hoàng A và những người chơi số lô, đề chưa xác định được căn cước, lai lịch, nên chưa có căn cứ xem xét xử lý nên HĐXX không xem xét giải quyết.

[14] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[15] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

6

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật Hình sự: (đối với bị cáo Nguyễn Thị V);

- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 322, Điều 17, Điều 58, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự: (đối với bị cáo Phạm Đức T);

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị VPhạm Đức T phạm tội Tổ chức đánh bạc.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị V 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 17/10/2023.

Xử phạt bị cáo Phạm Đức T 15 (mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Phạm Đức T cho Ủy ban nhân dân xã A, huyện A, thành phố Hải Phòng giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp bị cáo Phạm Đức T thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự như sau:

“Người được hưởng án treo có thể vắng mặt tại nơi cư trú nếu có lý do chính đáng và phải xin phép theo quy định tại khoản 2 Điều này, phải thực hiện khai báo tạm vắng theo quy định của pháp luật về cư trú. Thời gian vắng mặt tại nơi cư trú mỗi lần không quá 60 ngày và tổng số thời gian vắng mặt tại nơi cư trú không được vượt quá một phần ba thời gian thử thách, trừ trường hợp bị bệnh phải điều trị tại cơ sở y tế theo chỉ định của bác sỹ và phải có xác nhận điều trị của cơ sở y tế đó.

Người được hưởng án treo khi vắng mặt tại nơi cư trú phải có đơn xin phép và được sự đồng ý của Ủy ban nhân dân cấp xã; trường hợp không đồng ý thì Ủy ban nhân dân cấp xã phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Người được hưởng án treo khi đến nơi cư trú mới phải trình báo với Công an cấp xã nơi mình đến tạm trú, lưu trú; hết thời hạn tạm trú, lưu trú phải có xác nhận của Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc Công an cấp xã nơi tạm trú, lưu trú. Trường hợp người được hưởng án treo vi phạm pháp luật, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi người đó đến tạm trú, lưu trú phải thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã được giao giám sát, giáo dục kèm theo tài liệu có liên quan.

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật này.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.”

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

7

Căn cứ khoản 1 Điều 321, Điều 35, điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh B phạm tội Đánh bạc.

Xử phạt tiền bị cáo Nguyễn Thanh B 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.

- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo Phạm Đức T và bị cáo Nguyễn Thanh B.

- Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại Iphone 14 promax thu giữ của Nguyễn Thị V
  • Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng của bị cáo V và số tiền 500.000 đồng của bị cáo T.
  • (Theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 12/4/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền và Công an quận N và Biên lai thu tiền số 0003010 ngày 22/5/2024 và Biên lai thu tiền số 0002996 ngày 17/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng)
  • - Buộc bị cáo V tiếp tục phải nộp lại số tiền 6.650.000 đồng tiền thu lợi bất chính để nộp ngân sách Nhà nước.
  • Tạm giữ số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng của bị cáo B đã tự nguyện nộp trước khi xét xử để đảm bảo thi hành án.
  • (Theo Biên lai thu tiền số 0003024 ngày 24/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng)

- Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị V, Phạm Đức T, Nguyễn Thanh B mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo bản án:

Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Các bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

8

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND quận Ngô Quyền;
  • - VKSND TP Hải Phòng;
  • - TAND TP Hải Phòng;
  • - Cơ quan CSĐT Công an quận Ngô Quyền;
  • - Cơ quan THAHS Công an quận Ngô Quyền;
  • - Chi cục THADS quận Ngô Quyền;
  • - Trại tạm giam Công an TP Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
  • - Công an quận Ngô Quyền;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Huyền

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Thị Bấm

Phạm Thị Ngọc Hà

Bùi Duy Khoa

9

10

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 24/05/2024 của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng về hình sự về tội tổ chức đánh bạc và đánh bạc

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Tổ chức Đánh bạc và Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hình sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger