Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI BÈ

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST

Ngày 24/4/2024

V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Lê Quế Thanh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Trung Nhân;

Ông Tống Văn Tư.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Luân– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.

Trong ngày 24 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 50/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Trúc P, sinh năm: 1996; (có đơn xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp M, xã H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Bị đơn: Anh Huỳnh Anh Q, sinh năm: 1993; (vắng mặt)

Địa chỉ: Số C, tổ B, khu phố D, thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện, tờ tự khai, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc P trình bày:

Chị và anh Huỳnh A Q chung sống với nhau vào năm 2020, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 13/4/2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, anh Q có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không quan tâm vợ con, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị và anh Q đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Nay nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Thiên D, sinh ngày 05/3/2021 và Huỳnh Thiên Q1, sinh ngày 24/9/2022, hiện đang sống với chị P. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung là cháu D và cháu Q1, yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.200.000 đồng/01 con chung.

Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Huỳnh Anh Q trình bày:

Anh thống nhất với những lời trình bày của chị P về điều kiện đi đến hôn nhân, con chung, tài sản chung và nợ chung. Về mâu thuẫn như chị P trình bày là không đúng, anh không có người phụ nữ khác như chị P trình bày. Nay anh không đồng ý ly hôn với chị P do anh còn thương vợ, không mong muốn ly hôn.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Thiên D, sinh ngày 05/3/2021 và Huỳnh Thiên Q1, sinh ngày 24/9/2022. Do anh không đồng ý ly hôn nên anh không có ý kiến và không có yêu cầu Tòa án giải quyết về con chung, tài sản chung và nợ chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc P có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa. Bị đơn anh Huỳnh Anh Q dù được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt chị P và anh Q.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Xét thấy, chị P yêu cầu Tòa án giải quyết về việc ly hôn và nuôi con với anh Q nên đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Do bị đơn anh Q có nơi cư trú tại huyện C nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy, chị P và anh Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, được Ủy ban nhân dân thị trấn C, huyện C, tỉnh Tiền Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 35 ngày 13/4/2021 nên là hôn nhân hợp pháp. Chị P cho rằng chị và anh Q chung sống hạnh phúc đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, anh Q có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác, không quan tâm vợ con, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc. Chị và anh Q đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay, vợ chồng không còn quan tâm chăm sóc lẫn nhau. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, chị P cương quyết xin ly hôn, không đồng ý đoàn tụ, còn anh Q có ý kiến không đồng ý ly hôn, anh cho rằng anh không có quan hệ bất chính với người phụ nữ khác như chị P trình bày. Tại phiên tòa, dù được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ nhưng anh Q không có mặt để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Ngoài ra, thời gian ly thân đã lâu nhưng trong quá trình giải quyết vụ án anh Q cũng không đưa ra được phương án cụ thể để hàn gắn tình cảm vợ chồng. Từ đó cho thấy anh Q đã không yêu thương, quan tâm và không có ý định hàn gắn tình cảm cũng như mâu thuẫn giữa vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị P.

[4] Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung tên Huỳnh Ngọc Thiên D, sinh ngày 05/3/2021 và Huỳnh Thiên Q1, sinh ngày 24/9/2022, hiện đang sống với chị P. Khi ly hôn, chị yêu cầu nuôi dưỡng hai con chung là cháu D và cháu Q1. Xét thấy, sau khi ly thân chị P là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là cháu D và cháu Q1 khỏe mạnh và ổn định cho đến nay. Ngoài ra cháu Q1 hiện dưới 36 tháng tuổi, cần được mẹ quan tâm chăm sóc. Vì vậy việc giao hai con chung là cháu D và cháu Q1 cho chị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp quy định pháp luật và đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho các cháu.

Anh Huỳnh Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[5] Về cấp dưỡng nuôi con: Chị P yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con đối với hai con chung là Huỳnh Ngọc Thiên D, sinh ngày 05/3/2021 và Huỳnh Thiên Q1, sinh ngày 24/9/2022, yêu cầu cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.200.000 đồng/01 con chung cho đến khi cháu D và cháu Q1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động.

Xét thấy “cha mẹ có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chưa thành niên, con đã thành niên không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình trong trường hợp không sống chung với con” nên việc chị P yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con với mức cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 1.200.000 đồng/01 con chung cho đến khi cháu D và cháu Q1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động là phù hợp với thu nhập, khả năng thực tế của anh Q và nhu cầu thiết yếu của con chung là cháu D và cháu Q1 theo quy định tại Điều 107, Điều 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị P.

[6] Về tài sản chung và nợ chung: Chị P và anh Q trình bày không yêu cầu giải quyết về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[7] Về án phí: Chị P phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 107, 110, 116 Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc P.

    Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị Trúc P được ly hôn với anh Huỳnh Anh Q.

    Về con chung: Giao hai con chung tên Huỳnh Ngọc Thiên D, sinh ngày 05/3/2021 và Huỳnh Thiên Q1, sinh ngày 24/9/2022 cho chị Nguyễn Thị Trúc P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

    Anh Huỳnh Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

    Buộc anh Huỳnh A Q phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.200.000 đồng/ 01 con chung cho đến khi cháu Huỳnh Ngọc Thiên DHuỳnh Thiên Q1 đủ 18 tuổi và có khả năng lao động. Thực hiện cấp dưỡng nuôi con ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

    Kể từ ngày chị P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh Q chậm thi hành nghĩa vụ cấp dưỡng, thì hàng tháng còn phải chịu thêm tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

  2. Về án phí: Chị Nguyễn Thị Trúc P phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân sơ thẩm. Chị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0014936 ngày 16/02/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang. Vậy chị P đã thi hành xong án phí.

    Anh Q phải chịu 300.000 đồng án phí cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Trúc P và bị đơn anh Huỳnh Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cái Bè;
  • - CCTHADS huyện Cái Bè;
  • - Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Bè;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ngô Lê Quế Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI BÈ, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chị P xin ly hôn anh Q
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger