Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CẨM MỸ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 104/2023/HSST

Ngày: 23/10/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Khuyên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Đức Dũng
  2. Bà Lại Thị Thúy Hằng

Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Bích - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hà - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2023, tại Tòa án nhân dân huyện huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai, xét xử sơ thẩm công khai bằng hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 108/2023/TLST-HS ngày 03 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 111/2023/QĐXXST - HS ngày 11 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Văn T, sinh năm 1991 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: không; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: làm rẫy; Trình độ văn hoá (học vấn): 6/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N, sinh năm 1966 (còn sống) và bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm 1976 (còn sống); Gia đình có 04 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; H và tên vợ Hồ Diễm M (đã ly hôn) và có 01 người con sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: không có.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/6/2023 và tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C cho đến nay.

( bị cáo có mặt tại phiên tòa)

* Người làm chứng: Anh Ngô Nguyễn Quyền K, sinh năm 2000 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Trần Văn T là đối tượng sử dụng ma tuý. Vào khoảng 13 giờ ngày 12/6/2023, bị cáo đi bộ qua xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai mua 200.000 đồng ma túy của một đối tượng tên L1 (không rõ nhân thân lai lịch). Khi mua ma túy xong, bị cáo cất giấu vào trong túi quần bên trái rồi đi về nhà bị cáo tại ấp T, xã X để sử dụng, khi đi đến đoạn đường đất thuộc ấp B, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai thì bị lực lượng Công an xã X phát hiện bắt quả tang, thu giữ bên trong túi quần bên trái của bị cáo 01 bịch ma túy và tiến hành niêm phong theo quy định.

Tại kết luận giám định số 1223/KL-KTHS ngày 17 tháng 6 năm 2023 của Phòng K1 Công an tỉnh Đ kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng: 0,1310gam, loại Methamphetamine.

* Vật chứng vụ án: 0,0823gam Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1223/KL-KTHS có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ (Mẫu vật sau giám định) hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ.

Cáo trạng số 106/CT- VKSCM ngày 02 tháng 10 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, tỉnh Đồng Nai truy tố bị cáo Trần Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Phần luận tội, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái trái phép chát ma túy”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Trần Văn T mức án từ: 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.

Đối tượng tên L1 đã bán ma túy cho bị cáo hiện không xác định được nhân thân lai lịch nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C tiếp tục điều tra, xử lý sau.

Về các biện pháp tư pháp: đề nghị tịch thu tiêu hủy 0,0823gam Methamphetamine mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo đồng ý với kết quả giám định chất ma túy của Phòng K1 Công an tỉnh Đ. Bị cáo không tranh luận và cũng không bào chữa cho hành vi phạm tội của mình. Bị cáo nói lời sau cùng nhận thức hành vi của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm về hòa nhập với xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại biên bản bắt người phạm tội quả tang do Công an xã X, huyện C lập ngày 12/6/2023 thu giữ 01 bịch ny lông màu trắng được hàn kín, bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng. Qua giám định là ma túy có khối lượng 0,1310gam loại Methamphetamine. Methamphetamine là tên gọi khoa học của các loại chất được gọi chung là ma túy quy định tại Nghị định 73/2018 ngày 15/5/2018, việc bị cáo có hành vi cất giữ ma túy để sử dụng đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Như vậy đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[3] Bị cáo là người có đủ năng lực để nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khoẻ con người và sự phát triển lành mạnh của nòi giống, việc sử dụng ma tuý là nguyên nhân gián tiếp làm phát sinh các loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, bị cáo cũng biết rõ pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, nhưng vẫn cố tình thực hiện nhằm sử dụng thỏa mãn cơn nghiện cho bản thân. Vì vậy, nhằm để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội, Hội đồng xét xử xem xét và áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo để thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo:

  • [4.1] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • [4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định.Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

[6] Đối tượng tên L1 đã bán ma túy cho bị cáo hiện không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể nên Cơ quan cảnh sát điều tra huyện C tiếp tục điều tra và xử lý sau là phù hợp.

[7] Về biện pháp tư pháp: 0,0823gam Methamphetamine được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1223/KL-KTHS có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ (mẫu vật còn lại sau giám định) là vật cấm lưu hành nên tịch thu tiêu hủy.

[8] Về án phí: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

[9] Xét quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát về việc đánh giá tính chất mức độ, hành vi phạm tội và hình phạt đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố: Bị cáo Trần Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Trần Văn T: 01 (một) năm 02 (hai) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12 tháng 6 năm 2023.

2. Về biện pháp tư pháp:

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự năm năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy 0,0823gam Methamphetamine, mẫu vật còn lại sau giám định được niêm phong trong một phong bì ký hiệu số 1223/KL - KTHS có hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh Đ (Hiện đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cẩm Mỹ theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/10/2023).

3. Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trần Văn T phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKS tỉnh Đồng Nai;
  • - STP tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an huyện Cẩm Mỹ;
  • - VKS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA.DS huyện Cẩm Mỹ;
  • - THA hình sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lê Thị Khuyên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2023/HSST ngày 23/10/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 104/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM MỸ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: TRƯƠNG VĂN T PHẠM TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TUÝ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger