Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẾN CẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc

Bản án số: 104/2024/HSST

Ngày 26-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Thanh Tùng

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Phúc

2. Ông Huỳnh Thiện Khiêm – Bí thư huyện đoàn

- Thư ký phiên tòa: Ông Trang Hoàng Mỹ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Trần Văn Nhiều - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu, tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 96/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Khánh H; sinh ngày 15 tháng 6 năm 2006, tại tỉnh Tây Ninh; nơi đăng ký hộ khẩu: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Q và bà Phạm Thị Kim P; chưa có vợ; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 27-02-2024, trả tự do ngày 05-6-2024; bị cáo tại ngoại có mặt.

  2. Nguyễn Phúc Lê Sơn H1; sinh ngày 02 tháng 5 năm 2007, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp X, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: phụ giúp gia đình; trình độ văn hóa (học vấn): 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc T và bà Lê Thị Anh T1; chưa có vợ; tiền sự, tiền án: không; bị cáo tại ngoại có mặt.

  3. Nguyễn Trọng P1; sinh ngày 12 tháng 8 năm 2006, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Trọng L và bà Vương Thị T2; chưa có vợ; tiền sự: ngày 27-02-2023, bị Trưởng Công an xã L xử phạt vi phạm hành chính 500.000 đồng về hành vi gây rối trật tự công cộng (nộp phạt ngày 14-8-2023); tiền án: không; nhân thân: ngày 09-02-2024, bị Trưởng Công an huyện B xử phạt vi phạm hành chính 3.250.000 đồng về hành vi cố ý gây thương tích, nộp phạt ngày 19-02-2024; bị cáo tại ngoại có mặt.

  4. Võ Thành D; sinh ngày 15 tháng 01 năm 2004, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: phụ giúp gia đình; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Thành C và bà Phan Thị Hồng N; chưa có vợ; tiền sự, tiền án: không; bị bắt tạm giam ngày 27-02-2024; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo H là bà Phạm Thị Kim P, sinh năm 1989; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; mẹ của bị cáo; có mặt.

Người bào chữa cho bị cáo H là bà Trần Thị Cẩm V; Trợ giúp viên pháp lý theo quyết định số: 54/QĐ-TTTPL ngày 26-02-2024 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.

- Người đại diện hợp pháp của bị cáo H1 là bà Lê Thị Anh T1, sinh năm 1983; nơi cư trú: ấp X, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; mẹ bị cáo; có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo H1 là bà Lê Nguyễn Kim H2; Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý theo quyết định số: 56/QĐ-TTTPL ngày 26-02-2024 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.

Người đại diện hợp pháp của bị cáo P1 là Ông Nguyễn Trọng L, sinh năm 1971 và bà Vương Thị T2, sinh năm 1974; nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; cha, mẹ bị cáo; có mặt.

Người bào chữa chỉ định cho bị cáo P1 là ông Nguyễn Văn C1; Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý theo quyết định số: 55/QĐ-TTTPL ngày 26-02-2024 của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T; có mặt.

Bị hại: Anh Huỳnh Văn K, sinh ngày 03/01/2006; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

Người đại diện hợp pháp cho bị hại bà Trần Thị T3, sinh năm 1989; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; mẹ bị hại; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Nhật D1, sinh ngày 25/11/2008; nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1985; nơi cư trú: ấp N, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  2. Lý Thành C2, sinh ngày 21/6/2010; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Lê Thị Ánh T4, sinh năm 1989; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  3. Lê Gia T5, sinh ngày 13/02/2009; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Lưu Thị Thu L2, sinh năm 1986; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  4. Trịnh Nguyễn Minh T6, sinh ngày 12/11/2009; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Trịnh Văn M, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm: 1981; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.

  5. Vương Hoàng H3, sinh ngày 27/7/2010; nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Vương Thị Mộng L4, sinh năm: 1976; nơi cư trú: ấp C, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  6. Nguyễn Văn H4, sinh ngày 01/3/2009; nơi cư trú: ấp R, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Bà Phạm Thị G, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  7. Võ Hoàng N1, sinh ngày 18/12/2009; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    Người đại diện hợp pháp: Ông Võ Quốc V1, sinh năm 1980 và bà Lê Thị Thúy K1, sinh năm 1987; nơi cư trú: ấp L, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Do mâu thuẫn với nhau trước đó, khoảng 14 giờ ngày 21/11/2023, Phạm Khánh H hẹn Nguyễn Phúc Lê Sơn H1 và Trịnh Nguyễn Minh T6 (sinh ngày 12/11/2009), Võ Hoàng N1 (sinh ngày 18/12/2009), Nguyễn Nhật T7 (sinh ngày 09/7/2003), Phan Nhật D1 (sinh ngày 25/11/2008), Nguyễn Minh L5 (sinh ngày 17/01/2008), Lưu Chí V2 (sinh ngày 10/11/2007), Lê Anh K2 (sinh ngày 21/4/2003), cùng đến quán cà phê “Hoa Tranh” thuộc ấp L, xã L, huyện B để uống nước. Tại đây, H kể lại việc mâu thuẫn với anh Huỳnh Văn K (sinh năm 2006). H rủ đi đánh K thì H1, T6, N1 đồng ý; T7, D1, L5, V2, K2 không đi mà ở lại quán tiếp tục uống nước; H mượn xe môtô biển số 70C1-354.73 của T7 nói là “Để H1 chở H đi đây chút rồi về”, thì T7 đồng ý; N1 hỏi mượn xe môtô biển số 70C1-082.07 của D1 để đi đánh K, thì D1 đồng ý. Sau đó, H1 điều khiển xe chở H về nhà H lấy 01 cây vũ 03 khúc bằng kim loại (chiều dài 67cm, thu gọn lại dài 24cm), N1 điều khiển xe chở T6 rồi cùng nhau tập trung tại nhà của Vương Hoàng H3.

Tại nhà H3 gồm có: H3, Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D và Lê Gia T5 (sinh ngày 13/02/2009), Nguyễn Văn H4 (sinh ngày 01/3/2009), Lý Thành C2 (sinh ngày 21/6/2010). H rủ cả nhóm cùng nhau đi đánh K, thì tất cả đồng ý. Sau đó, cả nhóm của H điều khiển đi trên 04 xe môtô các loại (D chở H1 và H cầm 01 cây vũ 03 khúc; T5 chở H4 và P1; N1 chở T6; H3 chở C2) đến Trường THPT H7 chờ K ra về để đánh. Đến khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, nhóm của H nhìn thấy K điều khiển xe môtô chở anh Trần Quốc V3 (sinh năm 2005) chạy ngang qua thì nhóm của H điều khiển xe môtô đuổi theo đến khu vực thuộc ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì N1 điều khiển xe cúp đầu xe của K. H cầm cây vũ 03 khúc đánh 02 cái vào đầu của K đang đội mũ bảo hiểm, 01 cái vào lưng của K; T6 dùng tay đánh 03 cái trúng vào mặt của V3 thì V3 bỏ chạy; K và H ôm giật nhau xuống đường thì H1, N1, T5 dùng mũ bảo hiểm đánh K; P1, H3, H4 dùng tay, chân đánh đá K; D, C2 đứng gần không tham gia đánh K. Lúc này, Tó nhặt 01 cục gạch ống đánh 03 cái vào đầu của K (02 cái trúng mũ bảo hiểm, 01 cái trúng vào đầu). Thấy đầu của K bị chảy máu thì nhóm của H không đánh nữa mà bỏ đi về. Kiệt được đưa đi cấp cứu điều trị đến ngày 26/11/2023 thì xuất viện. Ngày 27/11/2023, Huỳnh Văn K có đơn yêu cầu xử lý đối với nhóm của Phạm Khánh H.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 57/KLTTCT-PVPYQG ngày 05/02/2024 của Phân viện Pháp y Quốc gia khu vực Phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Sẹo kích thước trung bình vùng đỉnh phải 02%; Sẹo kích thước nhỏ mu bàn tay phải 01%; Sẹo kích thước nhỏ vùng mặt lưng khớp liên đốt xa ngón III bàn tay trái 01%; Lún bản ngoài sọ đỉnh phải khoảng 18mm là 09%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Văn K tại thời điểm giám định là 13%. Các thương tích là do vật tày có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Tại Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 127/BS/KLTTCT-PVPYQG ngày 03/5/2024 của Phân viện Pháp y Quốc gia khu vực Phía Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, kết luận: Sẹo kích thước trung bình vùng đỉnh phải; Sẹo kích thước nhỏ vùng mu bàn tay phải; Sẹo kích thước nhỏ vùng mặt lưng khớp liên đốt xa ngón III bàn tay trái; Lún bản ngoài sọ đỉnh phải. Trường hợp với thương tích nêu trên của Huỳnh Văn K nếu không cấp cứu kịp thời có khả năng không dẫn đến tử vong.

Tại Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 09/KLTTCT-TTPYTN ngày 17/01/2024 của Trung tâm P2-Sở Y tế tỉnh T, kết luận: Hiện tại không phát hiện thương tích; Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Quốc V3 tại thời điểm giám định là: Không có quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể theo Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019.

Tại Bản cáo trạng số: 98/CT-VKS-BC ngày 30 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bến Cầu truy tố các bị cáo Phạm Khánh H, Nguyễn Phúc Lê Sơn H1; Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: giữ nguyên bản Cáo trạng truy tố đối với các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Phạm Khánh H, Nguyễn Phúc Lê Sơn H1; Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D về tội “Cố ý gây thương tích”.

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Phạm Khánh H từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù.

  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Lê Sơn H1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

  3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 101; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P1 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù..

  4. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 54; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Võ Thành D từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.

    Căn cứ Điều 56 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt với Bản án số 14/2024/HS-ST ngày 13/3/2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu.

  5. Về biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định.

  6. Về trách nhiệm dân sự: đã bồi thường thiệt hại xong số tiền 26.400.000 đồng.

Người bào chữa cho các bị cáo H, H1, Phúc trình bày: tội danh thống nhất như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố; nhân thân các bị cáo tốt, chưa tiền án tiền sự; đã bồi thường cho bị hại; lúc thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo chưa thành niên; nhận thức pháp luật còn hạn chế; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho các bị cáo được hưởng án treo.

Người đại diện cho bị hại trình bày: xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Các bị cáo không tranh luận và nói lời sau cùng: xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo; người đại diện bị hại không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tội danh: Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án có căn cứ xác định. Do mâu thuẫn với nhau trước đó, khoảng 14 giờ ngày 21/11/2023 cả nhóm hẹn gặp nhau tại nhà của Vương Hoàng H3, gồm: Phạm Khánh H, Nguyễn Phúc Lê Sơn H1, Võ Hoàng N1, Trịnh Nguyễn Minh T6, Vương Hoàng H3, Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D và Lê Gia T5, Nguyễn Văn H4, Lý Thành C2. H rủ cả nhóm cùng đi đánh K, thì tất cả đồng ý. D chở H1 và H cầm 01 cây vũ 03 khúc; T5 chở H4 và P1; N1 chở T6; H3 chở C2 đến Trường trung học phổ thông H7 chờ K ra về để đánh. Khoảng 16 giờ 15 phút cùng ngày, nhóm của H nhìn thấy K điều khiển xe môtô chở anh Trần Quốc V3 chạy ngang qua thì nhóm của H đuổi theo đến khu vực thuộc ấp B, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh thì N1 cúp đầu xe của K. H cầm cây vũ 03 khúc đánh 02 cái vào đầu của K đang đội mũ bảo hiểm, 01 cái vào lưng của K; T6 dùng tay đánh 03 cái trúng vào mặt của V3 thì V3 bỏ chạy. K và H ôm giật nhau xuống đường thì H1, N1, T5 dùng mũ bảo hiểm đánh K; P1, H3, H4 dùng tay, chân đánh đá K; D, C2 đứng gần nhưng không tham gia đánh K. T6 nhặt 01 cục gạch ống đánh 03 cái vào đầu của K (02 cái trúng mũ bảo hiểm, 01 cái trúng vào đầu). Thấy đầu của K bị chảy máu nên cả nhóm bỏ về. Kiệt được đưa đi cấp cứu điều trị đến ngày 26/11/2023 thì xuất viện. Theo Kết luận giám định : Sẹo kích thước trung bình vùng đỉnh phải 02%; Sẹo kích thước nhỏ mu bàn tay phải 01%; Sẹo kích thước nhỏ vùng mặt lưng khớp liên đốt xa ngón III bàn tay trái 01%; Lún bản ngoài sọ đỉnh phải khoảng 18mm là 09%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Huỳnh Văn K tại thời điểm giám định là 13%. Các thương tích là do vật tầy có cạnh tác động trực tiếp gây nên.

Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhặt, các bị cáo thực hiện hành vi chặn đầu xe bị hại dùng hung khí nguy hiểm đánh làm tổn thương cơ thể bị hại tại thời điểm giám định là 13%. Hành vi nêu trên của các bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Vụ án mang tính chất nghiêm trọng, hành vi phạm tội của của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ; gây hoang mang lo lắng trong nhân dân, làm mất trật tự trị an tại địa phương; tình hình tội phạm do người chưa thành niên thực hiện có chiều hướng gia tăng, khó kiểm soát; cần xử lý theo pháp luật mới có tác dụng giáo dục và phòng ngừa. Người bào chữa cho các bị cáo H, H1, P1 đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo là không phù hợp nên không chấp nhận.

[4] Xét vai trò của từng bị cáo: bị cáo H là người chủ mưu, cầm đầu, rủ các bị cáo khác tham gia đánh bị hại; bị cáo cũng là người cầm cây vũ 03 khúc đánh bị hại trúng vào đầu trong khi bị hại đội mũ bảo hiểm và lưng; cho nên bị cáo phải chịu trách nhiệm chính tron vụ án. Các bị cáo H1, P1 và D là người bị rủ rê tham gia thực hiện tội phạm; bị cáo H1 dùng nón bảo hiểm đánh vào đầu, còn bị cáo P1 dùng chân, tay đánh bị hại; bị cáo D là người chở các bị cáo khác đi đánh bị hại, nhưng không đánh nhưng, là người giúp sức. Cho nên các bị cáo phải chịu hình phạt tương xứng với tính chất mức độ do các bị cáo gây ra.

Bị cáo P1 đã bị xử phạt hành chính về hành vi gây rối và cố ý gây thương tích; bị cáo D trong thời gian tại ngoại chờ xét xử về hành vi gây rối trật tự công cộng, bị cáo lại tiếp tục tham gia trong vụ án này. Viện kiểm sát cho rằng bị cáo tái phạm là không đúng. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát rút lại tình tiết này, xét thấy phù hợp nên chấp nhận.

[5] Khi quyết định hình phạt có xem xét:

[5.1] Tình tiết tăng nặng: các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

[5.2] Tình tiết giảm nhẹ: các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; gia đình các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 26.400.000 đồng; đại diện cho bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo; ông ngoại bị cáo H có công cách mạng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến; đây là những tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo được quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5.3] Lúc thực hiện hành vi phạm tội các bị cáo H, H1, P1 là người chưa thành niên; cho nên áp dụng Điều 91, 101 của Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt đối với các bị cáo cho phù hợp.

[6] Trách nhiệm dân sự: gia đình các bị cáo đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 26.400.000 đồng (mỗi gia đình là 6.600.000 đồng). Hội đồng xét xử ghi nhận.

[7] Vật chứng: đối với xe mô tô biển số 71B4-066.42 là của ông Nguyễn Phước H5 bán cho bà Lưu Thị Thu L2; xe một tô biển số 70C1-348.44 là của bà Lê Thị Ánh T4; xe mô tô biển số 70 C1-082.07 là của bà Phan Thị H6 (chết) cho bà Nguyễn Thị L1. Việc các bị cáo dùng làm phương tiện phạm tội bà L2, bà T4, bà L1 không biết; nên cần tuyên trả xe nêu trên cho bà L2, bà T4, bà L1 theo Điều 46 của Bộ luật hình sự; 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Các vật chứng còn lại gồm 01 cây vũ 03 khúc bằng kim loại có chiều dài 67cm; 01 cục gạch ống bị khuyết một gốc, kích thước (17x8x7,5) cm; 01 mũ bảo hiểm màu xanh ghi bằng nhựa, bị mất lưỡi trai phía trước, bị trầy xướt nhiều nơi; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen bằng nhựa, bị trầy xướt nhiều nơi. 01 mũ bảo hiểm màu trắng bằng nhựa, bị trầy xướt nhiều nơi. 01 mũ bảo hiểm màu bạc đậm bằng nhựa, bị trầy xướt nhiều nơi. Xét thấy, không còn giá trị sử dụng, nên tịch thu tiêu hủy theo Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

[8] Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố các bị cáo Phạm Khánh H, Nguyễn Phúc Lê Sơn H1; Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

  2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 91, 101 của Bộ luật Hình sự.

  3. Xử phạt bị cáo Phạm Khánh H 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời hạn tạm giam từ ngày 27-02-2024 đến ngày 05-6-2024.

  4. Xử phạt bị cáo Nguyễn Phúc Lê Sơn H1 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  5. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trọng P1 01 (một) năm tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.

  6. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Võ Thành D 01 (một) năm tù.

    Áp dụng Điều 56 của Bộ luật Hình sự; tổng hợp hình phạt với Bản án số: 14/2024/HS-ST ngày 13-3-2024 của Tòa án nhân dân huyện Bến Cầu đã áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; xử phạt bị cáo Võ Thành D 03 (ba) năm tù. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27-02-2024; được khấu trừ thời gian tạm giam từ ngày 12-6-2023 đến ngày 09-9-2023.

  7. Các biện pháp tư pháp: căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

    1. Ghi nhận gia đình các bị cáo Phạm Khánh H, Nguyễn Phúc Lê Sơn H1; Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D đã thỏa thuận bồi thường cho bị hại số tiền 26.400.000 đồng (mỗi gia đình là 6.600.000 đồng).

    2. Tuyên trả lại tài sản cho:

      • - Bà Lưu Thị Thu L2 xe mô tô biển số 71B4-066.42.
      • - Bà Lê Thị Ánh T4 xe một tô biển số 70C1-348.44.
      • - Bà Nguyễn Thị L1 xe mô tô biển số 70 C1-082.07.
    3. Tịch thu tiêu hủy: 01 cây vũ 03 khúc bằng kim loại có chiều dài 67cm; 01 cục gạch ống bị khuyết một gốc, kích thước (17x8x7,5) cm; 01 mũ bảo hiểm màu xanh ghi bằng nhựa, bị mất lưỡi trai phía trước, bị trầy xướt nhiều nơi; 01 mũ bảo hiểm lưỡi trai màu đen bằng nhựa, bị trầy xướt nhiều nơi. 01 mũ bảo hiểm màu trắng bằng nhựa, bị trầy xướt nhiều nơi. 01 mũ bảo hiểm màu bạc đậm bằng nhựa, bị trầy xướt nhiều nơi.

  8. Về án phí: các bị cáo Phạm Khánh H, Nguyễn Phúc Lê Sơn H1; Nguyễn Trọng P1, Võ Thành D mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm ngàn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

  9. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, báo cho các bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Riêng người vắng mặt tại phiên tòa thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

  10. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - CQĐT Công an huyện Bến Cầu;
  • - VKSND huyện Bến Cầu;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Bến Cầu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh;
  • - THADS tỉnh Tây Ninh;
  • - Công an cấp xã, phường, thị trấn nơi bị cáo cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Những người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Tùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HSST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 104/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẾN CẦU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: PHAM KHÁNH HUNG - DP- CO Y TT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger