|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT TỈNH ĐẮK LẮK |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2025/HS-ST Ngày 03 – 4 – 2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Tiến Dũng
- Bà Nguyễn Thị Bạn
Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Văn Nam - Thư ký Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Kiều Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Toà án nhân dân TP. Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 93/2025/TLST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 3 năm 2025, đối với các bị cáo:
-
Họ và tên: Hoàng Việt H; Sinh ngày 17 tháng 7 năm 1996; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Hoàng Văn B, sinh năm 1962 và con bà Nguyễn Thị Lan H1, sinh năm 1971; Bị cáo có chồng là Nguyễn Tấn Q, sinh năm:1998; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2016, con nhỏ nhất sinh năm 2020;
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 15 tháng 01 năm 2025, bị Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk xử phạt 12 tháng tù, về tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2024/HS-ST (bị cáo chưa chấp hành).
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 22/12/2024 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
-
Họ và tên: Phạm Văn T; Sinh ngày 14 tháng 7 năm 1999; Tại: Tỉnh Đắk Lắk;
Nơi cư trú: Buôn C, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Phạm Văn H2, sinh năm 1968 và con bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1977; Bị cáo chưa có vợ, con;
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 15/02/2025 cho đến nay – Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Ông Phạm Công Tuấn A, sinh năm 1994 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ dân phố H, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
-
Ông Tô Huy T1, sinh năm 1991 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Buôn K, xã C, huyện C, tỉnh Đắk Lắk.
-
Ông Nguyễn Trường P, sinh năm 1996 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số E đường N, xã E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
-
Bà Đoàn Thị D, sinh năm 1971 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Số C đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hoàng Việt H và Phạm Văn T là bạn của nhau và đều là những người sử dụng trái phép chất ma tuý loại Methamphetamine (ma tuý đá). Quá trình sử dụng ma tuý, H quen biết và mua ma tuý đá của người đàn ông, tên thường gọi là P1 (hiện chưa xác định được nhân thân, lai lịch), tại khu vực đường B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Vào khoảng 20 giờ 00 ngày 20 tháng 12 năm 2024, Phạm Văn T sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, gắn thẻ sim số 0868247947, đăng nhập vào tài khoản Zalo tên “Đông Văn”, nhắn tin cho Hoàng Việt H qua tài khoản Zalo tên “H” đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu hồng xám, gắn thẻ sim số 0967909028 để hỏi mua ma túy đá với số tiền là 300.000 đồng, thì H đồng ý. Cả hai thoả thuận H ngụy trang ma tuý trong quần áo gửi cho T. Sau đó, T nhờ Tô Huy T1 sử dụng tài khoản Ngân hàng M chuyển vào số tài khoản Ngân hàng T2 số 00000975710 của H số tiền 300.000 đồng. Sau khi nhận được tiền mua ma tuý, H sử dụng tài khoản Zalo tên “Hoàng H” gọi cho P1 hỏi mua 300.000 đồng ma tuý đá, thì P1 đồng ý và hẹn H đến khu vực đường B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk để giao dịch mua bán ma tuý. Sau đó, H một mình đón xe ôm (hiện chưa xác định nhân thân, lai lịch người điều khiển xe và đặc điểm xe), đến điểm hẹn và mua của người đàn ông tên P1 01 (một) gói ma tuý đá với số tiền 300.000 đồng, rồi mang về nhà tại địa chỉ tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk lấy ra một ít ma tuý đá để sử dụng một mình. Sau khi sử dụng ma tuý xong, H mang số ma tuý còn lại bỏ vào trong một túi nylon màu trắng, sau đó bỏ vào trong túi của một chiếc quần tây màu đen, rồi mang đến nhà bạn là Phạm Công Tuấn A, tên thường gọi là C1 cất giấu trong phòng của Tuấn A rồi ra về (H không nói cho Tuấn A biết bên trong có ma tuý), mục đích để nhờ Tuấn A đưa cho nhân viên G chuyển cho T. Một lúc sau, H liên lạc lại cho T nói “ma tuý cất giấu tại địa chỉ số C đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk”. Sau đó, T sử dụng tài khoản Zalo tên “Hau” đăng nhập trên điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, màu đen, gắn thẻ sim số 0868247947 liên lạc với nhân viên G tên Nguyễn Trường P đến địa chỉ trên lấy đồ giúp T (T không nói cho P biết bên trong có ma tuý). Sau đó, T sử dụng tài khoản Ngân hàng V số 9978581318 chuyển vào số tài khoản 0941192027 Ngân hàng M của P số tiền 100.000 đồng, là tiền công giao hàng. Khi P đến trước nhà của Tuấn A, thì H đã liên lạc nhờ Tuấn A lấy túi nylon có chứa ma tuý đang để ở trong chiếc quần tây trước đó để đưa cho P. Đến khoảng 22 giờ 45 ngày 20 tháng 12 năm 2024, Nguyễn Trường P nhận hàng, nhưng nghi ngờ bên trong có chất cấm, nên đã đến Công an phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk trình báo sự việc. Công an phường E đã tiến hành kiểm tra, lập biên bản sự việc, tạm giữ tang vật.
* Tại Kết luận giám định số 70/KL-KTHS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng, được niêm phong gửi giám định là ma tuý loại Methamphetamine có khối lượng 0,1860 gam.
H3 lại đối tượng gửi giám định gồm: Mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 0,1469 gam ma tuý loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu”.
Cáo trạng số 100/CT-VKS-HS ngày 13/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố bị cáo Hoàng Việt H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà các bị cáo Hoàng Việt H, Phạm Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và đúng theo nội dung bản cáo trạng đã công bố.
Quá trình tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột đã phân tích, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Hoàng Việt H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Hoàng Việt H từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HSST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột. Buộc bị cáo Hoàng Việt H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 năm 06 tháng tù đến 04 năm tù.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T từ 15 tháng đến 18 tháng tù.
Các biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Xử lý vật chứng:
Đối với 0,1469 gam ma tuý, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 70/KL-KTHS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, cùng 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong có 01 (một) quần tây màu đen, là các vật chứng của vụ án và không có giá trị sử dụng, nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu hồng xám, không gắn thẻ sim, số Imei: 352810098765668 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, gắn sim số 0868247947, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các bị cáo Hoàng Việt H và Phạm Văn T. Các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên đề nghị tịch thu sung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 (một) thẻ sim điện thoại số 0967.909.xxx của bị cáo Hoàng Việt H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H khai đã vứt bỏ, nhưng không nhớ địa điểm cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng chưa thu giữ được. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu gold, số IMEI: 353097101750882, kèm thẻ sim điện thoại số 0933.804.xxx, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Phạm Công Tuấn A, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Phạm Công Tuấn A nhận quản lý, sử dụng.
Các nội dung khác:
Trong vụ án này, đối với người đàn ông, tên thường gọi là P1, là người mà bị cáo Hoàng Việt H khai đã bán ma tuý cho H. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau, là có căn cứ và phù hợp.
Đối với Phạm Công Tuấn A, Nguyễn Trường P không biết bên trong túi nylon màu trắng bên trong chứa ma tuý. Đối với Tô Huy T1 không biết bị cáo Phạm Văn T nhờ chuyển khoản tiền mục đích để mua ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Phạm Công Tuấn A, Nguyễn Trường P và Tô Huy T1 là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Công Tuấn A và các bị cáo Hoàng Việt H, Phạm Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B để xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ là phù hợp.
Đối với bà Đoàn Thị D, sinh năm 1971, là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà tại số C đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bà D không biết bị cáo Hoàng Việt H có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý tại căn nhà trên, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà D là phù hợp.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và không bào chữa cho mình, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ai khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Xét thấy lời khai của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Vào ngày 20 tháng 12 năm 2024, Hoàng Việt H đã mua của người đàn ông tên thường gọi là P1 01 (một) gói ma tuý, loại Methamphetamine, với số tiền 300.000 đồng, tại khu vực đường B, phường T, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk, rồi mang về nhà tại tổ dân phố G, phường K, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk lấy ra một ít để sử dụng một mình. Sau khi sử dụng ma tuý xong, H mang 0,1860 gam ma tuý, loại Methamphetamine còn lại bỏ vào trong một túi nylon màu trắng, sau đó bỏ vào trong túi của một chiếc quần tây màu đen, rồi bán cho Phạm Văn T với số tiền 300.000 đồng, để Phạm Văn T mang về sử dụng. Hành vi của bị cáo Hoàng Việt H đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự, Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột truy tố các bị cáo Hoàng Việt H, Phạm Văn T là có căn cứ và đúng pháp luật.
Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
a)...
c) Heroine, C2, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”
Điều 251 Bộ luật Hình sự quy định:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm”.
-
Xét hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến trật tự quản lý Nhà nước về việc cất giữ, vận chuyển, trao đổi chất ma tuý, nguyên nhân gây mất ổn định trị an xã hội, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, sức khoẻ con người, gia tăng các tệ nạn xã hội. Các bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận thức được ma túy là chất gây nghiện, làm hủy hoại sức khỏe con người, mọi hành vi mua bán, sử dụng, tàng trữ trái phép đều bị pháp luật nghiêm cấm. Các bị cáo đều là những người sử dụng ma túy. Nhưng do ý thức coi thường pháp luật, bị cáo Hoàng Việt H đã có hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhằm mục đích thu lợi bất chính, bị cáo Phạm Văn T thực hiện hành vi mua ma túy về để tàng trữ nhằm mục đích sử dụng. Vì vậy, các bị cáo hoàn toàn phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra.
-
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét thấy trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội.
Về tình tiết tăng nặng: Không.
Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt, đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội. Đối với bị cáo Hoàng Việt H cần áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HSST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, hiện nay chưa chấp hành, buộc bị cáo Hoàng Việt H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án.
-
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đối với 0,1469 gam ma tuý, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 70/KL-KTHS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, cùng 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong có 01 (một) quần tây màu đen, là vật chứng của vụ án cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu hồng xám, không gắn thẻ sim, số Imei: 352810098765668 và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, gắn sim số 0868247947, là tài sản thuộc quyền sở hữu hợp pháp của các bị cáo Hoàng Việt H và Phạm Văn T. Các bị cáo đã sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.
Đối với 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu gold, số IMEI: 353097101750882, kèm thẻ sim điện thoại số 0933.804.xxx, quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của Phạm Công Tuấn A, không liên quan đến hành vi phạm tội, nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Phạm Công Tuấn A nhận quản lý, sử dụng là phù hợp.
-
Các nội dung khác: Đối với 01 (một) thẻ sim điện thoại số 0967.909.xxx của bị cáo Hoàng Việt H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo H khai đã vứt bỏ, nhưng không nhớ địa điểm cụ thể. Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng chưa thu giữ được. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau là phù hợp.
Trong vụ án này, đối với người đàn ông, tên thường gọi là P1, là người mà bị cáo Hoàng Việt H khai đã bán ma tuý cho H. Tuy nhiên, quá trình điều tra, Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng trên. Do đó, Cơ quan điều tra đã tách hành vi của đối tượng trên ra khỏi vụ án để tiếp tục điều tra, xác minh làm rõ, xử lý sau, là có căn cứ và phù hợp.
Đối với Phạm Công Tuấn A, Nguyễn Trường P không biết bên trong túi nylon màu trắng bên trong chứa ma tuý. Đối với Tô Huy T1 không biết bị cáo Phạm Văn T nhờ chuyển khoản tiền mục đích để mua ma tuý. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với Phạm Công Tuấn A, Nguyễn Trường P và Tô Huy T1 là phù hợp.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phạm Công Tuấn A và các bị cáo Hoàng Việt H, Phạm Văn T, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ đến Công an thành phố B để xử phạt vi phạm hành chính theo Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31 tháng 12 năm 2021 của Chính phủ là phù hợp.
Đối với bà Đoàn Thị D, sinh năm 1971, là chủ sở hữu hợp pháp của căn nhà tại số C đường L, phường E, thành phố B, tỉnh Đắk Lắk. Bà D không biết bị cáo Hoàng Việt H có hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý tại căn nhà trên, nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với bà D là phù hợp.
-
Về án phí: Các bị cáo Hoàng Việt H, Phạm Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Hoàng Việt H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Hoàng Việt H 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2024.
Áp dụng khoản 2 Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tổng hợp hình phạt 12 tháng tù của Bản án hình sự sơ thẩm số 26/2025/HSST ngày 15/01/2025 của Tòa án nhân dân thành phố Buôn Ma Thuột, xử phạt Hoàng Việt H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Hoàng Việt H phải chấp hành hình phạt chung của cả hai bản án là 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 22/12/2024.
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt, tạm giữ, tạm giam ngày 15/02/2025.
-
Các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 0,1469 gam ma tuý, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói còn lại sau giám định trong gói niêm phong số 70/KL-KTHS ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ, 01 (một) túi nylon màu trắng bên trong có 01 (một) quần tây màu đen (đã qua sử dụng).
Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu hồng xám, không gắn thẻ sim, số Imei: 352810098765668 (đã qua sử dụng) của bị cáo Hoàng Việt H và 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Samsung, màu đen, gắn sim số 0868247947, số Imei 353112441016579 (đã qua sử dụng, bề màn hình trước) của bị cáo Phạm Văn T.
(Vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 14/3/2025 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đ với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Buôn Ma Thuột).
Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh Phạm Công Tuấn A là chủ sở hữu nhận quản lý, sử dụng 01 (một) điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, màu gold, số IMEI: 353097101750882, kèm thẻ sim điện thoại số 0933.804.xxx.
-
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Các bị cáo Hoàng Việt H, Phạm Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
-
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Mỹ Hạnh |
Bản án số 104/2025/HS-ST ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự (mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 104/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán và Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BUÔN MA THUỘT, TỈNH ĐẮK LẮK
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mua bán và tàng trữ trái phép chất ma túy
