TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2025/DS-PT Ngày: 03-4-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Thúy Nga.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Quốc Định
Bà Tôn Thị Thanh Thúy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân nhân tỉnh Sóc Trăng: Ông Trương Minh Diền– Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 03 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 69/2025/TLPT-DS ngày 13 tháng 02 năm 2025, về “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST, ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 88/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Huỳnh Hữu Đ, sinh năm 1974. Địa chỉ: Số D đường L, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Bà Lý Mỹ T, sinh năm 1977. Địa chỉ: Số D đường L, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
Người bảo vệ quyền lợi hợp pháp của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T: Ông Trần Đức T1; địa chỉ: Số E đường số G, Khu đô thị E, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
- Bị đơn: Ông Thái Bảo T2, sinh năm 1994. Địa chỉ: Số D, đường L, khóm C, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (có mặt).
· Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Thái Hùng N; Địa chỉ: Số D, đường L, khóm C, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt) .
Người đại diện theo uỷ quyền của ông Thái Bảo T2 và ông Thái Hùng N: Ông Trầm Thiện M; Địa chỉ: Số A, đường M, khóm D, Phường A, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.(Có mặt)
3. Người kháng cáo: Ông Huỳnh Hữu Đ và bà Thái Mỹ T3 là nguyên đơn kháng cáo
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Các nguyên đơn ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T trình bày:
Ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T có quyền sử dụng đất hợp pháp diện tích 124m², tại thửa số 45, tờ bản đồ số 9. Đất toạ lạc tại số D, đường L, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN 653765 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T vào ngày 22/11/2018. Nguồn gốc phần đất này là do ông Đ và bà T nhận chuyển nhượng của bà Trần Ngọc H. Hiện trạng khi chuyển nhượng trên đất có căn nhà cấp 4, đến năm 2019 phía nguyên đơn tháo dỡ xây dựng mới hoàn toàn và sử dụng cho đến nay. Khi xây dựng phía giáp với đất ông Thái Bảo T2 phía nguyên đơn chừa lại chiều ngang trước 0,15m, chiều ngang đoạn giữa 0,2m, chiều ngang phía sau 0,12m. Chiều dài 10,9m. Tổng diện tích khoảng 13m². Đến khoảng tháng 6 năm 2023 phía ông Thái Bảo T2 đã xây dựng nhà lấn qua ranh đất của ông Đ, bà T tổng diện tích lấn chiếm khoảng 13m². Ông Đ và bà T có ngăn cản nhưng phía ông T2 vẫn tiến hành xây dựng lấn sang đất của ông bà.
Phía nguyên đơn thống nhất với kết quả đo đạc sơ đồ hiện trạng của Công ty TNHH Đ1 vào ngày 17/9/2024.
Nay ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Thái Bảo T2 phải tháo dỡ phần công trình và hoàn trả lại diện tích đã lấn chiếm khoảng 13m².
Bị đơn ông Thái Bảo T2, người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn ông Thái Bảo T2 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Thái Hùng N là ông Trầm Thiện M trình bày:
Nguồn gốc diện tích đất 86,9m², tại thửa số 46, tờ bản đồ số 9. Đất toạ lạc tại số D, đường L, phường D, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng là của ông bà nội ông T2, trên đất có căn nhà cấp 4. Sau đó ông bà nội ông T2 cho ba mẹ của ông T2, đến năm 2016 cha mẹ ông T2 cho ông Thái Hùng N và ông N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 052849 do UBND thành phố S cấp vào ngày 20/9/2016, chỉnh lý tặng cho ông Thái Bảo T2 vào ngày 31/10/2016. Phần đất và căn nhà trên đất gia đình ông T2 sử dụng mấy chục năm nay (ông T2 không biết thời gian cụ thể). Đến khoảng tháng 4 năm 2023 ông T2 xây dựng lại căn nhà trên. Khi xây dựng ông T2 có làm thủ tục xin cấp giấy phép xây dựng và ông T2 đã xây dựng theo đúng diện tích đất mà ông được cấp. Sau khi nhà xây hoàn thiện xong
thì xảy ra tranh chấp. Theo ông Thiên Ô xây dựng nhà đúng với phần diện tích đất ông được cấp và ông không có lấn chiếm qua ranh đất của ông Đ, bà T nên ông không đồng ý trả đất theo yêu cầu của ông Đ, bà T.
Theo kết quả đo đạc thực tế thì phần đất ông T2 đang sử dụng nhỏ hơn diện tích đất ông T2 được cấp, do đó ông T2 không có lấn đất của ông Đ và bà T nên ông T2 không đồng ý trả đất theo yêu cầu của ông Đ, bà T.
Phía bị đơn thống nhất với kết quả đo đạc sơ đồ hiện trạng của Công ty TNHH Đ1 vào ngày 17/9/2024.
* Tại phiên toà sơ thẩm:
- Phía nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết:
Buộc ông Thái Bảo T2 phải tháo dỡ phần công trình và hoàn trả lại diện tích đã lấn chiếm 2,2m². (Cụ thể phần tranh chấp phía trước giáp đường L có diện tích 1,6m², phần tranh chấp phía sau có diện tích 0,6m²).
Buộc ông Thái Bảo T2 sữa chữa lại phần vách tường của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T bị nứt, hư hỏng.
Sự việc được Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng thụ lý, giải quyết. Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST, ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26, khoản 2 Điều 235, Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T về việc yêu cầu ông Thái Bảo T2 phải tháo dỡ phần công trình và hoàn trả lại diện tích đã lấn chiếm 2,2m². (Cụ thể phần tranh chấp phía trước giáp đường L có diện tích 1,6m², phần tranh chấp phía sau có diện tích 0,6m²).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T phải chịu số tiền 300.000 đồng. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ và bà T đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009672 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá số tiền 48.414.330 đồng. Ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T phải chịu. Ông Đ và bà T đã nộp tạm ứng xong.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn thông báo quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
Ngày 16-12-2024 ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T là nguyên đơn kháng cáo và ngày 22-12-2024 ông Đ và bà T kháng cáo bổ sung yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa hoặc hủy toàn bộ bản án sơ thẩm
Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn khởi kiện và xin rút lý do thứ nhất và lý do thứ hai trong đơn kháng cáo đề ngày 22/12/2024, giữ nguyên lý do kháng cáo thứ ba. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Tại phiên tòa phúc thẩm người bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho nguyên đơn trình bày: Phía bị đơn cho rằng không lấn đất, theo giấy và đo đạc thực tế cần xác định ranh giới liền kề. Ông Đ cất nhà có chừa khoảng trống, bị đơn thừa nhận phần chừa này là của nguyên đơn, phía trước 1,6m² phía sau 0,6m² tổng là 2,2m² nằm trong giấy chứng nhận của ông Đ. Nguyên đơn căn cứ vào kết quả đo đạc của Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ1 nên thay đổi yêu cầu chỉ yêu cầu buộc bị đơn hoàn trả diện tích lấn chiếm là 2,2m². Đề nghị cấp phúc thẩm xem xét chấp nhận yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn.
Vị Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng về tính có căn cứ và hợp pháp của kháng cáo, việc tuân theo và chấp hành pháp luật tố tụng của những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm. Đồng thời, phát biểu quan điểm về nội dung kháng cáo đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra các chứng cứ tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến phát biểu và đề nghị của những người tham gia tố tụng, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về chủ thể, nội dung, hình thức đơn kháng cáo và thời hạn kháng cáo của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T là đúng theo quy định tại Điều 271, Điều 272 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên kháng cáo hợp lệ và đúng theo luật định.
[2] Xét kháng cáo của nguyên đơn ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án sơ thẩm với lý do:
[3] Đối với lý do kháng cáo thứ nhất các nguyên đơn cho rằng: Kết quả đo đạc có 2 kết quả khác nhau, Tòa án căn cứ vào kết quả thẩm định không chính xác xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là không chính xác và lý do kháng cáo thứ hai: Tòa án khi xem xét, thẩm định tại chỗ không mời chủ thửa đất số 47, tờ bản đồ số 9 là Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển tỉnh S (viết tắt là Ngân hàng) tham gia để chỉ giáp ranh liền kề để xác định chính xác việc cất nhà của ông T2 có lấn qua ranh đất của nguyên đơn không mà xử bác yêu cầu của nguyên đơn. Tại phiên tòa các nguyên đơn xin rút lại các lý do kháng cáo này và xác định kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ1 là đúng. Tại phiên tòa phúc thẩm cả nguyên đơn và người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều thống nhất đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào kết quả đo đạc của Công ty TNHH Đ1 làm căn cứ giải quyết vụ án. Đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh theo quy định tại Khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bị đơn và người có liên quan xác định ông Thái Bảo T2 đã xây dựng hết đất, phần khoảng trống ông T2 không có sử dụng mà thuộc quyền sử dụng của ông Đ.
[4] Đối với lý do kháng cáo nguyên đơn cho rằng phía nguyên đơn không đưa ra được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho việc lấn chiếm từ đó bác yêu cầu của nguyên đơn là không có căn cứ. Xét thấy:
[4.1] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì quyền sử dụng đất của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T được cấp chiều ngang phía trước (giáp đường L) 6,7m, chiều ngang phía sau (ngay vị trí tranh chấp) 4,7m, diện tích 124m². Theo đo đạc thực tế thì hiện nay ông Đ và bà T đang sử dụng chiều ngang phía trước là 6,66m, chiều ngang phía sau (ngay vị trí tranh chấp) 4,85m, diện tích 120,5m².
[4.2] Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì quyền sử dụng đất của ông T2 được cấp chiều ngang phía trước (giáp đường L) 4,15m, chiều ngang phía sau 5,26m, diện tích 86,9m². Theo đo đạc thực tế thì hiện nay gia đình ông T2 đang sử dụng chiều ngang phía trước là 4m, chiều ngang phía sau 5,26m, diện tích 82,7m².
[4.3] Như vậy, theo đo đạc thực tế thì phần đất ông Đ và bà T đang sử dụng so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp thì chiều ngang phía sau lớn hơn là 0,15m, còn chiều ngang phía trước nhỏ hơn 0,04m và tổng diện tích sử dụng nhỏ hơn 3,5m². Còn phần đất gia đình ông T2 sử dụng có chiều ngang phía trước nhỏ hơn 0,15m, tổng diện tích sử dụng nhỏ hơn 4,2m², chiều ngang phía sau bằng chiều ngang được cấp. Trong quá trình giải quyết vụ án phía ông Đ, bà T và phía ông T2 đều thừa nhận ông Đ và bà T xây dựng nhà kiên cố như hiện nay vào năm 2019, còn phía ông T2 xây dựng nhà vào tháng 4 năm 2023.
[4.3] Tại phiên toà sơ thẩm phía ông Đ thừa nhận ông xây dựng nhà kiên cố như hiện trạng hiện nay trước khi ông T2 xây dựng nhà. Trước khi ông T2 xây dựng nhà có mời ông Đ qua ký xác nhận ranh đất để ông T2 làm hồ sơ xin cấp giấy phép xây dựng. Khi gia đình ông T2 tiến hành khởi công xây dựng nhà, ông Đ và bà T biết và có ngăn cản nhưng do ông T2 nói là ông T2 xây dựng đúng với phần đất ông T2 được cấp nên ông Đ và bà T để cho ông T2 tiến hành xây dựng cho đến khi căn nhà xây xong phần thô đến phần hoàn thiện bên trong căn nhà, lúc này ông T2 mời các cơ quan chuyên môn đến kiểm tra gắn tài sản trên đất thì mới xảy ra tranh chấp. Như vậy, phía ông Đ và bà T đã chấp nhận cho ông T2 xây dựng nhà theo ranh đất như hiện trạng hiện nay ông T2 đang sử dụng và ông Đ, bà T cũng mặc nhiên chấp nhận ranh đất giữa ông bà với ranh đất ông T2 là vách tường nhà ông T2 đã xây dựng như hiện trạng hiện nay. Do vậy, không có căn cứ để cho rằng ông Thiên lấn ranh đất của ông Đ và bà T.
[4.4] Đồng thời, tại Công văn số 2187/UBND-HC ngày 02/10/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố S có nội dung: Trình tự, thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CE 052849 ngày 20/9/2016 cho ông Thái H1 Nhị được thực hiện đúng quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; tại thời điểm cấp giấy chứng nhận có đo đạc thực tế theo Phiếu xác nhận kết quả đo đạc hiện trạng thửa đất được Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố S ký ngày 21/7/2016; ngày 31/10/2016 chỉnh lý sang tên cho ông Thái Bảo T2 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên theo yêu cầu của người sử dụng. Và tại Công văn số 2224/STNMT-VPĐK ngày 08/8/2024 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S có nội dung: Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 653765 cho ông Huỳnh Hữu Đ, bà Lý Mỹ T là căn cứ vào hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Ngọc H với ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T ngày 26/10/2018; trình tự, thủ tục đúng theo quy định tại Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; việc cấp giấy chứng chứng nhận nêu trên dựa theo hồ sơ nhận chuyển nhượng hết thửa, nên không thực hiện đo đạc thực tế thửa đất.
[5] Từ những cơ sở phân tích nêu trên, cấp sơ thẩm xử không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận. Kháng cáo của nguyên đơn yêu cầu cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm hoặc hủy bản án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.
[6] Lời đề nghị của vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các nguyên đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ chấp nhận.
[7] Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định tại chỗ và định giá số tiền 48.414.330 đồng. Do yêu cầu của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T không được chấp nhận nên ông Đ và bà T phải chịu. Ông Đ và bà T đã nộp tạm ứng xong.
[8]. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T không được chấp nhận nên ông Đ và bà T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền 300.000 đồng.
[9] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do bản án sơ thẩm được giữ nguyên nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, khoản 1 Điều 148 và khoản 6 Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Tuyên xử:
Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 229/2024/DS-ST ngày 05 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sóc Trăng, tỉnh Sóc Trăng. Như sau:
Căn cứ khoản 2 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 165, khoản 1 Điều 244, khoản 1 Điều 273, khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Căn cứ Điều 166 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Căn cứ Điều 26, khoản 2 Điều 235, Điều 236 của Luật Đất đai năm 2024.
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T về việc yêu cầu ông Thái Bảo T2 phải tháo dỡ phần công trình và hoàn trả lại diện tích đã lấn chiếm 2,2m². (Cụ thể phần tranh chấp phía trước giáp đường L có diện tích 1,6m², phần tranh chấp phía sau có diện tích 0,6m²).
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T phải chịu số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng). Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Đ và bà T đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0009672 ngày 25/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng.
- Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá số tiền 48.414.330 đồng (bốn mươi tám triệu bốn trăm mười bốn ngàn ba trăm ba mươi đồng). Ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T phải chịu. Ông Đ và bà T đã nộp tạm ứng xong.
- Án phí dân sự phúc thẩm: ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T mỗi người phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự phúc thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) ông Huỳnh Hữu Đ đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008742 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng và số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) bà Lý Mỹ T đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0008743 ngày 23/12/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sóc Trăng. Như vậy, ông Huỳnh Hữu Đ và bà Lý Mỹ T đã nộp xong án phí dân sự phúc thẩm.
- Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải Thi hành án có quyền thỏa thuận Thi hành án, quyền yêu cầu Thi hành án, tự nguyện Thi hành án hoặc bị cưỡng chế Thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu Thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Thúy Nga |
Bản án số 104/2025/DS-PT ngày 03/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 104/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/04/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Hữu Đ - Thái Bảo T
