|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 104/2025/DS-PT Ngày: 12 - 03 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Bà Châu Minh Hoàng;
Bà Đinh Cẩm Đào.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Nhi - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Từ Thanh Thùy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 12 tháng 02 và ngày 12 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 457/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 11 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 234/2024/DSST ngày 19 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 501/2024/QĐ-PT ngày 27 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lâm Ú, sinh năm 1986; Cư trú tại: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện theo ủy quyền của ông Lâm Ú: Ông Nguyễn Ngọc Đ, sinh năm 1975; Cư trú tại: Khóm B, thị trấn C, huyện P, tỉnh Cà Mau, theo Hợp đồng ủy quyền ngày 16/12/2024 (có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án).
- Bị đơn:
- Bà Trịnh Thị C, sinh năm 1959 (có mặt);
- Ông Nguyễn Hùng S (xin vắng).
Cùng cư trú tại: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Trịnh Thị C: Luật sư Đặng Minh H – Là Luật sư của Văn phòng L, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C; Địa chỉ: B, đường C, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Võ Ngọc H1 (Bé), sinh năm 1997; cư trú tại: Ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau (có mặt).
Người kháng cáo: Bà Trịnh Thị C – Là Bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày:
Vào ngày 03/6/2023 âm lịch (AL) bà Trịnh Thị C vay số tiền 80.000.000 đồng, hai bên có ký giấy nợ (bà C đang quản lý), lãi 2.400.000 đồng/tháng, bà C đã đóng lãi được 02 tháng với số tiền 4.800.000 đồng. Đến ngày 03/8/2023 AL bà C tiếp tục vay số tiền 60.000.000 đồng, tổng cộng 140.000.000 đồng, lãi 5.400.000 đồng/tháng, bà C có ký giấy nợ, đóng lãi được 01 tháng đến nay thì ngưng. Do ông S và bà C là vợ chồng nay yêu cầu ông S và bà C có trách nhiệm thanh toán số tiền vốn 140.000.000 đồng, lãi từ ngày ngưng đóng ngày 03/9/2023 AL đến ngày xét xử theo quy định pháp luật và đồng ý đối trừ số tiền lãi đã đóng vượt quy định.
Tại Biên bản hoà giải ngày 26/6/2024 bị đơn bà Trịnh Thị C trình bày: Bà xác định chữ viết và chữ ký “Trịnh Thị C” trong “Giấy vay mượn tiền ngày 03/8/2023” là chữ ký và chữ viết của bà. Tuy nhiên, thực tế không có việc vay tiền mà trong 140.000.000 đồng ghi trong biên nhận nợ thì 80.000.000 đồng là khoản tiền nợ do trước đây bà có đánh đề, ông Ú là người ghi đề nhưng trong đó có khoản tiền lãi của tiền số nhưng bao nhiêu lãi và bao nhiêu là tiền đánh đề thì bà không xác định được. Do là tiền đánh đề nên bà không đồng ý thanh toán cho ông Ú. Bà xác định khi đánh đề thì bà trực tiếp gọi điện thoại cho ông Ú, không ghi âm nhưng có tin nhắn trao đổi và có đoạn ghi âm nói về việc ông Ú đã ghi số tiền nợ đề thành tiền vay. Ông Ú cho rằng bà giữ giấy vay 80.000.000 đồng là không đúng. Đối với 60.000.000 đồng, trước đây bà có chơi đánh đề với bà H1 và nợ bà H1 50.000.000 đồng. Vào ngày 14/11/2018 bà có chuyển nhượng cho bà H1 phần đất ngang 04m dài 22m; tại ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau, giá chuyển nhượng 60.000.000 đồng, bà nhận tiền trực tiếp từ bà Võ Ngọc D nhưng trong hợp đồng thì ghi tên bà H1 nhưng nguồn tiền của việc chuyển nhượng là của bà D (bà D và bà H1 là chị em cùng cha khác mẹ). Sau đó, bà H1 có nói là bà H1 nợ tiền ông Ú nên đã thế chấp Giấy Hợp đồng chuyển nhượng đất trên cho ông Ú để vay 60.000.000 đồng. Bà có đến gặp ông Ú để thoả thuận bà đồng ý trả thay khoản nợ của bà H1, khi đó bà và ông Ú có ký giấy hiện ông Ú đang quản lý và bà đã đóng lãi cho ông Ú trên số tiền 60.000.000 đồng tổng cộng 19.500.000 đồng. Vì bà nợ bà H1 50.000.000 đồng và lãi nên bà đồng ý trả số tiền bà H1 nợ ông Ú để đối trừ. Khi ký giấy “Giấy vay mượn tiền ngày 03/8/2023” thì do ông Ú đã ghi sẵn nội dung và đến nhà bà do lúc đó bà sợ chồng bà phát hiện việc bà đánh đề nên bà đã tự nguyện ký giấy nợ số tiền 140.000.000 đồng nhưng không đọc rõ nội dung thực tế bà không nhận khoản tiền nào từ ông Ú. Nay ông Ú yêu cầu trả 140.000.000 đồng, bà xác định trong đó có 80.000.000 đồng tiền đánh đề và lãi nên không đồng ý trả, còn 60.000.000 đồng bà đồng ý trả thay cho bà H1 để bà nhận lại Giấy hợp đồng chuyển nhượng đất. Hiện nay bà và ông S vẫn là vợ chồng hợp pháp việc bà tham gia đánh đề với ông Ú, bà H1 thì ông S không biết nên bà đồng ý trả cho ông Ú 60.000.000 đồng, không đồng ý với yêu cầu ông S cùng có trách nhiệm thanh toán.
Tại biên bản làm việc ngày 08/8/2024 bà Võ Ngọc H1 trình bày: Trước đây chị ruột bà là bà D có nhận chuyển nhượng của bà C phần đất tại ấp C, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau với số tiền 60.000.000 đồng, nguồn tiền chuyển nhượng là của bà D nhưng do là chị em nên bà D mua đất cho bà và mẹ sinh sống nên bà D đồng ý để bà đứng tên hợp đồng chuyển nhượng. Sau đó, mẹ bà không đồng ý cất nhà trên đất nên bà C đã trả lại tiền cho bà D. Do thời điểm bà D nhận lại tiền thì bà đã thế chấp “Giấy Hợp đồng chuyển nhượng đất” cho ông Ú để vay 60.000.000 đồng. Nay ông Ú đã khởi kiện bà số tiền 60.000.000 đồng trong vụ án khác và đã hòa giải thành. Theo bà, trong 140.000.000 đồng mà ông Ú kiện bà C thì trong đó có 60.000.000 đồng của bà nợ ông Ú. Do trước đó, bà C nợ bà 25.000.000 đồng và tiền lãi nên trong khoảng thời gian bà đi làm ăn xa thì bà kêu bà C đứng ra trả thay cho bà khoản nợ ông Ú để đối trừ.
Tại biên bản làm việc ngày 31/7/2024 bà Võ Hồng D1 trình bày: Vào ngày 14/11/2018 bà và bà C, ông S xác lập hợp đồng chuyển nhượng phần đất ngang 04m dài 22m tại ấp C, xã P, giá 60.000.000 đồng. Vì bà mua đất cho mẹ và bà H1 sinh sống nên bà đồng ý để bà H1 đứng tên hợp đồng nhưng tiền chuyển nhượng là của bà. Nhưng sau đó, bà N không được xét cất nhà nên bà và bà C thỏa thuận bà C đã trả tiền chuyển nhượng lại cho bà. Khi đó, bà cũng trả hợp đồng chuyển nhượng đất cho bà C quản lý. Còn lý do vì sao bà H1 thế chấp hợp đồng chuyển nhượng đất vay tiền ông Ú và thế chấp vào thời gian nào thì bà không rõ.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 234/2024/DSST ngày 19 tháng 09 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Lâm Út .
Buộc ông Nguyễn Hùng S và bà Trịnh Thị C liên đới thanh toán cho ông Lâm Ú số tiền 160.621.000 đồng.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, trường hợp thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 26/9/2024 Tòa án nhân dân (TAND) huyện P nhận được đơn kháng cáo của bị đơn Trịnh Thị C, yêu cầu cấp phúc thẩm giải quyết lại vụ án, bà C không đồng ý trả số tiền cho ông Ú theo Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Ngày 12/12/2024 ông Nguyễn Hùng S có đơn gửi TAND tỉnh Cà Mau yêu cầu hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 234/2024/DS-ST ngày 19/9/2024 của TAND huyện Phú Tân với lý do: Tòa án nhân dân huyện Phú Tân đưa ông vô với tư cách là bị đơn nhưng không gửi giấy mời ông lên giải quyết mà tất cả đều gửi cho bà C nhận thay nhưng bà C giấu, không giao giấy mời cho ông. Bà C chơi số đề hay vay tiền gì của ông Ú thì ông không biết, bà C cũng không đem số tiền về sử dụng chung cho mục đích gia đình.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bà Trịnh Thị C giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, bà C yêu cầu Hội đồng xét xử làm rõ thẻ nhớ (USB) mà bà H1 nộp, trong đó thể hiện cuộc đối thoại giữa Thẩm phán D2 với bà và bà H1, nội dung số tiền 60.000.000 đồng bà H1 hứa trả cho ông Ú là số tiền trong tổng 140.000.000 đồng ông Ú đang kiện bà.
Luật sư Đặng Minh H yêu cầu hủy Bản án dân sự sơ thẩm do vi phạm tố tụng về việc tống đạt các văn bản tố tụng.
Ông Nguyễn Ngọc Đ Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn yêu cầu Hội đồng xét xử giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm.
Bà Võ Ngọc H1 yêu cầu Hội đồng xét xử làm rõ nội dung USB đã nộp, theo lời trình bày của bà Trịnh Thị C.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 3 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 234/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Giao hồ sơ về Tòa án nhân dân huyện Phú Tân giải quyết lại theo thủ tục sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của bị đơn Trịnh Thị C nộp trong thời hạn qui định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà Trịnh Thị C, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Tại cấp phúc thẩm, bà Võ Ngọc H1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp cho Tòa án 02 thẻ nhớ (USB) ghi hình ảnh và âm thanh (Video clip). Tại phiên tòa phúc thẩm, bà H1 và bà C trình bày:
Đoạn Video clip là cuộc đối đáp giữa Thẩm phán D2 với bà H1 và bà C về số tiền 60.000.000 đồng trong vụ án Nguyên đơn là ông Lâm Út K bị đơn là bà Võ Ngọc H1, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Trịnh Thị C. Vụ án trên được thụ lý số 219/2024/TLST-DS ngày 22/5/2024, cùng ngày với vụ án ông Lâm Út K bị đơn là bà Trịnh Thị C, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Võ Ngọc H1, do Thẩm phán Như giải quyết (vụ án bà C đang kháng cáo). Theo đó, khi vụ án Ông Ú kiện bà H1 do Thẩm phán D2 giải quyết trước, tại phiên tòa bà H1 xác định bà đồng ý trả cho ông Ú 60.000.000 đồng với điều kiện là ông Ú phải trừ 60.000.000 đồng trong tổng số tiền 140.000.000 đồng mà ông Ú đang kiện bà C, bà H1 là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan; trong Video clip Thẩm phán D2 cũng xác nhận việc này nhưng khi ra Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự thì không ghi nhận sự việc ông Ú phải trừ 60.000.000 đồng trong vụ án mà ông Ú kiện bà C.
Nay bà Ú đề nghị Hội đồng xét xử thu thập chứng cứ, làm rõ vấn đề nêu trên.
[3] Do có chứng cứ mới mà phía bà C và bà H1 cung cấp, nhận thấy cần làm rõ những tình tiết nêu trên, để xác định số tiền 60.000.000 đồng mà ông Ú kiện bà H1 có phải trong số tiền 140.000.000 đồng mà ông Ú kiện bà C hay không, từ đó mới có căn cứ giải quyết việc kháng cáo của bà C.
[4] Do việc thu thập chứng cứ và chứng minh chưa được thực hiện đầy đủ, tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được, do đó cần phải hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 234/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau và chuyển hồ sơ vụ án cho tòa cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa.
[5] Do hủy án sơ thẩm nên Hội đồng xét xử không xem xét nội dung kháng cáo của bà Trịnh Thị C.
[6] Khi giải quyết lại vụ án, cấp sơ thẩm cần lưu ý việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn là ông Nguyễn Hùng S.
[7] Án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án. Án phí dân sự phúc thẩm bị đơn không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 308, khoản 1 Điều 310 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 234/2024/DS-ST ngày 19 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.
Chuyển hồ sơ vụ án cho Toà án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục chung.
- Án phí:
Án phí dân sự sơ thẩm được giữ lại để tiếp tục giải quyết vụ án.
Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Trịnh Thị C không phải chịu.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Đinh Cẩm Đào Châu Minh Hoàng |
Đỗ Cao Khánh |
Bản án số 104/2025/DS-PT ngày 12/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 104/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Ú kiện bà Chót yêu cầu trả số tiền vay 140.000.000 đồng
