|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 103/2025/HS-PT Ngày: 03-3-2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Sơn
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Quyên;
Bà Đinh Thị Kiều Lương.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa:
Bà Tống Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 474/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị D và đồng phạm do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 240/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
- Các bị cáo có kháng cáo:
- Nguyễn Thị D, sinh năm 1981 tại Thừa Thiên Huế; nơi đăng ký thường trú: Tổ I, ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Thợ làm tóc; trình độ học vấn: 04/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn S và bà Lại Thị M (đã chết); có chồng là Đỗ Hồng P, sinh năm 1980; có 01 con, sinh năm 2008; tiền án, tiền sự: Không.
- Phạm Thị T (tên gọi khác: M1), sinh năm 1976 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Nội trợ; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn B (đã chết) và bà Kiều Thị M2 (đã chết); có chồng là Trần Thanh P1, sinh năm 1973; có 02 người con, lớn nhất sinh năm 1994 và nhỏ nhất, sinh năm 2000; tiền án, tiền sự: Không .
- Lê Trần L (tên gọi khác: T1 gà); sinh năm 1985 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú và nơi sinh sống: Tổ 2, ấp H, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T2 và bà Trần Thị Bích T3; có vợ là Võ Thị Thu T4, sinh năm 1982; có 01 con, sinh năm 2011; tiền án, tiền sự: Không .
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Tại Bản án số: 15/2016/HSST ngày 03/02/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xử phạt 25.000.000 đồng về tội “Đánh bạc”. Đã nộp phạt xong ngày 08/12/2022.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
Nhân thân: Tại Bản án số: 130/2021/HS-ST ngày 10/11/2021, bị Tòa án nhân huyện N, tỉnh Đồng Nai xử phạt 30.000.000 đồng về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Bị cáo đã đóng phạt xong ngày 05/01/2022.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D: Bà Nguyễn Thị Kim Â, thuộc đoàn Luật sư tỉnh Đ;nơi làm việc: Văn phòng L2; địa chỉ: Số B N, Tổ A, Khu phố B, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
- Ngoài ra còn có các bị cáo khác không có kháng cáo và không bị kháng cáo, kháng nghị, Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 18/12/2023, tại Ấp A, xã T, huyện L, tỉnh Đồng Nai, Đ Công an huyện L bắt quả tang Nguyễn Thị H và Hoàng Thị Bích T5 đang có hành vi tổng hợp phơi đề. Thu giữ của H 02 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy có chứa các tin nhắn ghi số đề, thu giữ của T5 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16 màu xanh có chứa các tin nhắn ghi số đề.
Quá trình điều tra xác định như sau: Từ tháng 12/2023, Nguyễn Thị H đã thỏa thuận với Nguyễn Thị D và Lê Trần Thúy L1: H trực tiếp ghi số đề của những người đánh bạc rồi gửi cho D và L1 để hưởng hoa hồng, cứ 1.000.000 đồng thì H được hưởng số tiền 30.000 đồng (3%/1.000.000đ). Để thực hiện việc ghi số đề, H sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A12 màu đen xám và 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A22 màu tím và sử dụng số sim 0037850747 và 0906926043 đồng thời sử dụng Zalo tên “Nguyenthihoa”. Trong quá trình ghi số đề, do không biết chữ nên H nhờ Hoàng Thị Bích T5 đọc tin nhắn điện thoại của những người mua số đề, sau đó, T5 tổng hợp thành 02 phơi đề rồi gửi tin nhắn cho D và L1. H trả cho T5 tiền công 50.000 đồng/01 ngày. Riêng ngày 18/12/2023, H ghi số đề của nhiều người đánh bạc với số tiền 24.681.300 đồng, đồng thời H nhận tiền ghi đề từ Phạm Thị T số tiền 9.202.000 đồng. Cùng ngày, H đã chuyển phơi đề cho D với số tiền 12.660.500 đồng, chuyển phơi đề cho L1 với số tiền 12.020.800 đồng.
Đến 16 giờ 40 phút, ngày 18/12/2023, khi H và T5 đang tổng hợp phơi đề thì bị lực lượng Công an huyện L phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên. Quá trình tổ chức đánh bạc bằng hình thức ghi số đề, H thu lợi bất chính 700.000 đồng, T5 thu lợi bất chính 250.000 đồng.
Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, Trần Thị H1 đến Công an huyện L đầu thú về hành vi “Đánh bạc” bằng hình thức mua số đề. H1 khai nhận: Ngày 18/12/2023 H1 sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Promax màu vàng gắn số điện thoại 0786752555 nhắn tin mua số đề đài miền N (gồm đài thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Tháp và Cà Mau) với Nguyễn Thị H số tiền 2.280.000 đồng. Sau khi có kết quả, H1 trúng với số tiền 18.500.000 đồng. Tổng số tiền H1 đánh bạc là 20.780.000 đồng. Do H bị Công an bắt nên H1 và H chưa chung chi tiền thắng thua nên H1 chưa thu lợi từ việc đánh bạc.
Tiếp đó, lúc 19 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Thị T đến Công an huyện L đầu thú, T khai nhận: Bản thân không có công việc ổn định nên nảy sinh ý định ghi số đề giao lại cho Nguyễn Thị H để hưởng hoa hồng cứ 1.000.000 đồng thì T được hưởng 20.000 đồng. Để phục vụ việc mua bán số đề, T sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Iphone 14 Promax màu tím, gắn số điện thoại 0899720902 để ghi số đề cho những người tham gia đánh bạc rồi chuyển cho H. Ngày 18/12/2023, T ghi số đề cho nhiều người đánh bạc (không rõ nhân thân, lai lịch) với số tiền 9.202.000 đồng rồi giao lại cho H để H chuyển lại toàn bộ số tiền trên cho D và L1 để hưởng hoa hồng. T thu lợi từ việc tổ chức đánh bạc là 4.000.000 đồng.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, Công an huyện L tiến hành bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị D tại ấp L, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Nai. Thu giữ tại nhà D 01 điện thoại hiệu Samsung Galaxy A52 màu xanh sử dụng vào việc thầu đề. Quá trình điều tra D khai nhận: Do đang nợ nần tiền bạc nên D nảy sinh ý định thầu đề để kiếm tiền tiêu xài. Diệu thỏa thuận với Nguyễn Thị H, P1 và P2 (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể) ghi số đề của những người đánh bạc rồi giao lại cho D. Sau đó, D trả tiền hoa hồng 3% trên tổng số tiền ghi được. Ngày 18/12/2023, D nhận số đề từ H với số tiền 12.660.500 đồng, nhận số đề từ P1 với số tiền 14,182.500 đồng và nhận số đề từ P2 với số tiền 16.269.750 đồng. Tổng số tiền phơi đề D nhận trong ngày 18/12/2023 là 43.112.750 đồng. Do bị Công an bắt nên D, H, P1 và P2 chưa chung chi tiền cho nhau nên không xác định thu lợi bất chính.
Ngày 22/02/2024, Lê Trần Thúy L1 đến Công an huyện L đầu thú khai nhận: L1 và Lê Trần L là chị em ruột, do khó khăn và muốn kiếm thêm thu nhập nên L1 nhờ L hỗ trợ L1 trong việc chung chi tiền thắng thua bằng hình thức ghi số đề với Nguyễn Thị H. L1 và H trực tiếp nhắn tin chuyển phơi đề và tiền trúng số đề qua lại với nhau, còn L giúp sức cho L1 trực tiếp đi gặp H nhận tiền và chung chi tiền thua đề, L1 trả tiền công cho L từ 200.000 đến 300.000 đồng nếu L1 thắng.
Để thực hiện hành vì tổ chức đánh bạc, L1 sử dụng 01 điện thoại di động hiệu Iphone XS Max gắn số điện thoại 0901621024 để nhận tin nhắn số đề của H chuyển đến và L1 trả tiền hoa hồng cho H cứ ghi số đề được 1.000.000 đồng, H được hưởng 30.000 đồng. Ngày 18/12/2023 L1 nhận phơi đề của H số tiền 12.020.800 đồng. Sau khi có kết quả sổ xố đối chiếu thì phơi đề của H trúng với số tiền 9.700.000 đồng. Như vậy, tổng số tiền tổ chức đánh bạc ngày 18/12/2024 của L1 là 21.720.800 đồng.
Đến ngày 06/3/2024, L đến Công an huyện L đầu thú thừa nhận toàn bộ hành vi của mình như trên. Số tiền L1 thu lợi bất chính từ việc tổ chức đánh bạc là 2.000.000 đồng, L thu lợi bất chính số tiền 1.200.000 đồng.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 240/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành đã áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 (áp dụng thêm khoản 2) Điều 51, Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt Nguyễn Thị D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù; Phạm Thị T và Lê Trần L 01 (một) năm tù về tội “Tổ chức đánh bạc”.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Trong thời hạn kháng cáo, các bị cáo Nguyễn Thị D, Phạm Thị T và Lê Trần L kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa, các bị cáo vẫn giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa trình bày quan điểm:
Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội “Tổ chức đánh bạc”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù; các bị cáo Phạm Thị T và Lê Trần L mỗi bị cáo 01 (một) năm tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của các bị cáo. Các bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới ngoài tình tiết đã được cấp sơ thẩm xem xét. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của các bị cáo, y án sơ thẩm.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D trình bày quan điểm:
Thống nhất với bản án sơ thẩm về tội danh; tuy nhiên, về phần hình phạt là có phần nghiêm khắc với tích chất và mức độ hành vi phạm tội mà bị cáo D thực hiện. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết giảm nhẹ mới, gia đình bị cáo có công với cách mạng, có ông ngoại bị cáo là Liệt sĩ Lại Chương, bà ngoại là bà Nguyễn Thị E được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, ông nội là ông Nguyễn V được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất trong cuộc kháng chiến chống Mỹ; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, có nhân thân tốt và có nơi cư trú rõ ràng. Ngoài ra, ngày 18/12/2023 bị cáo có ghi số đề cho 03 người là Nguyễn Thị H, P1 và P2; tuy nhiên, bị cáo không hề biết P1 và P2 là ai, ở đâu nên không thể thực hiện việc bàn bạc, đối với Nguyễn Thị H giữa bị cáo và H chưa thực hiện chung chi thắng thua nên không thể xác định vai trò của bị cáo trong vụ án là người trực tiếp thầu đề, trực tiếp chung chi tiền thắng thua cho nhiều người như cấp sơ thẩm nhận định. Từ những phân tích trên, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giảm mức hình phạt tù của bị cáo xuống còn 01 năm và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
- Đơn kháng cáo của các bị cáo làm trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Tại Biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp (bút lục số 43) thể hiện bị cáo bị giữ vào lúc 20 giờ 30 phút, ngày 18/12/2023; sau đó, bị bắt vào lúc 08 giờ 00, ngày 19/12/2023, theo Biên bản bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp (bút lục 47); cấp sơ thẩm xác định ngày 19/12/2023 là không chính xác, cần điều chỉnh.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa, sau khi Kiểm sát viên phát biểu quan điểm đối với vụ án, cùng với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo của các bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trật tự quản lý hành chính, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự xã hội tại địa phương, là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác. Bị cáo Nguyễn Thị D là người thầu đề trực tiếp chung chi tiền thắng thua cho nhiều người; các bị cáo Phạm Thị T và bị cáo Lê Trần L đều từng bị kết án về tội “Đánh bạc” đã được xóa án tích nhưng các bị cáo không lấy đó làm bài học mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do lỗi cố ý thể hiện sự xem thường pháp luật. Khi lượng hình, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo T và L sau khi phạm tội đã ra đầu thú, để áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù; các bị cáo Phạm Thị T và Lê Trần L 01 (một) năm tù là phù hợp, đúng quy định, không nặng như đơn kháng cáo bị cáo nêu.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị D kháng cáo và cung cấp đơn được chính quyền địa phương xác nhận thể hiện hoàn cảnh khó khăn, gia đình có công với cách mạng, có ông ngoại là liệt sỹ Lại Chương, bà ngoại là bà Nguyễn Thị E được tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, ông nội là ông Nguyễn V được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất và cậu ruột là ông Lại B1 được tặng kỷ niệm chương Chiến sỹ cách mạng bị địch bắt tù, đầy; áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo. Tuy nhiên, với vai trò, tích chất và mức độ phạm tội của bị cáo trong vụ án, không có căn cứ để xem xét kháng cáo của bị cáo; các bị cáo Phạm Thị T và Lê Trần L kháng cáo nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào đặc biệt mới nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị D không phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên không được chấp nhận.
[6] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án;
Do kháng cáo của các bị cáo không được chấp nhận nên các bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Thị D, Phạm Thị T và Lê Trần L, giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 240/2024/HS-ST ngày 26/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Long Thành.
[2] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 58 của Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị D 01 (một) năm 04 (bốn) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Nguyễn Thị D vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023;
Xử phạt bị cáo Phạm Thị T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Phạm Thị T vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 18/12/2023 đến ngày 27/12/2023;
Xử phạt bị cáo Lê Trần L 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo Lê Trần L vào cơ sở giam giữ để chấp hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 06/3/2024 đến ngày 12/3/2024.
Các bị cáo bị xử phạt về tội “Tổ chức đánh bạc”.
[3] Về án phí: Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
[4] Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
[5] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thành Sơn |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
|
Các Thẩm phán |
|
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
|
Đinh Thị Kiều Lương |
Nguyễn Văn Thành |
Nguyễn Thành Sơn |
Bản án số 103/2025/HS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về tổ chức đánh bạc
- Số bản án: 103/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Đánh bạc”, theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017)
