Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÌNH CHÁNH

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 104/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04/02/2025

V/v Tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH – TP. HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Cẩm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Ngọc Hạnh.
  2. Ông Lê Trung .

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Hiếu – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa:

Ông Trần Văn Đang – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 02 năm 2025, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 969/2024/TLST-HNGĐ ngày 25/11/2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1045/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19/12/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 29/2025/QÐST-HNGĐ ngày 14/01/2025 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Bùi Thị Huyền T, sinh năm: 1989; Địa chỉ: C Tổ F, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Bà T có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
  2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn K, sinh năm: 1989; Địa chỉ: C Tổ F, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Ông K vắng mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn xin ly hôn ngày 16/9/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án - Nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T trình bày:

Bà và ông Nguyễn Văn K chung sống từ năm 2008, do tự tìm hiểu, có tổ chức đám cưới, được Ủy ban nhân dân xã B, huyện B cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 18/11/2008. Thời gian đầu, bà và ông K chung sống hạnh phúc, đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng nhất. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, trước đó bà đã khuyên ông K bớt ham mê cờ bạc nhưng năm 2022 là gây nợ nhiều nhất nên dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn nữa. Không những vậy, ông K còn có mối quan hệ không rõ ràng, tán tỉnh người phụ nữ khác ở bên ngoài. Từ năm 2022 đến nay, mặc dù cả hai còn sống chung nhà nhưng đã không còn sự quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Do đó, nay bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Nguyễn Văn K.

Về con chung, bà và ông K chung sống có hai con chung tên Nguyễn Bùi Đăng K1, sinh ngày 28/02/2010 và Nguyễn Bùi Đăng K2, sinh ngày 21/02/2015. Hiện các con đang sống với bà và ông K. Khi ly hôn bà có nguyện vọng được nuôi dưỡng hai con chung, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông K, ông K muốn lo cho con bao nhiêu thì tùy vào trách nhiệm của ông K.

Về tài sản chung, bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung, bà xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và cũng không thể hiện ý kiến của mình bằng bất cứ văn bản nào.

- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh tham gia phiên tòa phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, lời trình bày của các bên đương sự thì xét thấy thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo theo quy định tại Điều 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

[2] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án:

[2.1] Về quan hệ pháp luật: Nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn ông Nguyễn Văn K, vì vậy đây là tranh chấp ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Theo kết quả trả lời xác minh của Công an xã B, huyện B thì bị đơn ông Nguyễn Văn K hiện đang cư trú tại địa chỉ C Tổ F, ấp C, xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về sự vắng mặt của các đương sự:

- Nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T có đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vắng mặt, do đó Tòa án đưa vụ án ra xét xử vắng mặt bà T theo quy định tại khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đã tiến hành tống đạt hợp lệ thông báo về việc thụ lý vụ án; thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập đương sự tham gia tố tụng theo quy định tại Điều 179 Bộ luật tố tụng dân sự cho ông Nguyễn Văn K nhưng ông K vẫn không đến tham gia tố tụng tại Tòa án nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt ông K theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[4] Về hôn nhân: Theo giấy chứng nhận kết hôn số 108 Quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/11/2008 có cơ sở xác định quan hệ hôn nhân giữa bà T và ông K là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 9, Điều 11 và Điều 14 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.

[5] Theo trình bày của bà T xác định giữa bà và ông K phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là bất đồng quan điểm sống, tính tình không còn hòa hợp, ông K không chăm lo cho cuộc sống và hạnh phúc gia đình, dẫn đến vợ chồng sống ly thân từ năm 2022 cho đến nay. Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông K. Còn ông K vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án, không thể hiện ý kiến, yêu cầu đối với các yêu cầu khởi kiện của bà T đưa ra.

[6] Hội đồng xét xử xét thấy, trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án thì ông K vắng mặt, như vậy trên thực tế mâu thuẫn giữa bà T và ông K có diễn ra. Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy mục đích hôn nhân giữa bà T và ông K đã không đạt được, đời sống chung giữa hai vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài. Do đó, bà T yêu cầu ly hôn đối với ông K là hoàn toàn phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Về con chung: Bà T xác nhận giữa bà và ông K chung sống có hai con chung tên Nguyễn Bùi Đăng K1, sinh ngày 28/02/2010 và Nguyễn Bùi Đăng K2, sinh ngày 21/02/2015. Hiện các con đang sống với bà T và ông K. Khi ly hôn, nguyện vọng của bà T được trực tiếp nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con cùng bà T.

Còn ông K vắng mặt không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu về con chung của bà T, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào chứng cứ do bà T cung cấp để xem xét.

[7.1] Về người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn:

Theo Biên bản ghi nhận ý kiến ngày 29/11/2024 đối với cháu Nguyễn Bùi Đăng K1 và cháu Nguyễn Bùi Đăng K2 thì các cháu có nguyện vọng được sống với bà T.

Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 có quy định:

2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con

3. Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trưởng hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giao dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con

Hội đồng xét xử xem xét đến khả năng của các đương sự về việc đảm bảo cuộc sống ổn định, tinh thần, sự phát triển tốt nhất cho cháu K1 và cháu K2 nên căn cứ khoản 3 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử xét thấy cần tiếp tục giao cháu Nguyễn Bùi Đăng K1 và cháu Nguyễn Bùi Đăng K2 cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng là thỏa đáng.

[7.2] Về cấp dưỡng nuôi con: Do bà T không yêu cầu ông K cấp dưỡng nuôi con chung khi ly hôn. Tuy nhiên, do đây là quyền lợi của trẻ do đó Hội đồng xét xử xét tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với ông K.

[8] Về tài sản chung: Bà T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông K vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về tài sản chung giữa ông và bà T. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề tài sản chung theo yêu cầu của bà T, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

[9] Về nợ chung: Bà T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, còn ông K vắng mặt không thể hiện ý kiến, yêu cầu của ông về nợ chung giữa ông và bà T. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận vấn đề nợ chung theo yêu cầu của bà T, trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.

[10] Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn.

[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh về việc giải quyết vụ án là phù hợp nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 179, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 59, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84, Điều 110, Điều 116, Điều 117 và Điều 118 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T đối với bị đơn ông Nguyễn Văn K về việc tranh chấp ly hôn.
    1. Về hôn nhân: Bà Bùi Thị Huyền T được ly hôn với ông Nguyễn Văn K. Quan hệ hôn nhân giữa bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Văn K chấm dứt cũng như giấy chứng nhận kết hôn số 108 Quyển số 01/2008 do Ủy ban nhân dân xã B, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 18/11/2008 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
    2. Về con chung: Bà Bùi Thị Huyền T xác nhận giữa bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Văn K chung sống có hai con chung tên Nguyễn Bùi Đăng K1, sinh ngày 28/02/2010 và Nguyễn Bùi Đăng K2, sinh ngày 21/02/2015. Hiện các con chung đang ở với bà Bùi Thị Huyền T và ông Nguyễn Văn K.

      Giao hai con chung tên Nguyễn Bùi Đăng K1, sinh ngày 28/02/2010 và Nguyễn Bùi Đăng K2, sinh ngày 21/02/2015 cho bà Bùi Thị Huyền T trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi các con chung đối với ông Nguyễn Văn K.

      Ông Nguyễn Văn K có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền cản trở, vì lợi ích con chung, khi cần thiết các bên có quyền xin thay đổi việc nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con sau này theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

      Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

    3. Về tài sản chung: Bà Bùi Thị Huyền T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
    4. Về nợ chung: Bà Bùi Thị Huyền T xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Tòa án không đặt ra giải quyết; trường hợp các đương sự có tranh chấp sẽ yêu cầu giải quyết trong một vụ án khác.
  2. Về án phí: Nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) mà bà Bùi Thị Huyền T đã nộp theo biên lai thu 0051296 ngày 18/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Bùi Thị Huyền T đã nộp đầy đủ án phí.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn bà Bùi Thị Huyền T và bị đơn ông Nguyễn Văn K vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - VKSND H. Bình Chánh (2);
  • - Chi cục THADS H. Bình Chánh (1);
  • - UBND xã Bình Lợi, H. Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu hồ sơ, VP (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Hồng Cẩm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2025/HNGĐ-ST ngày 04/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 104/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger