Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN THỐT NỐT

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-ST.

Ngày: 27-11-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Mộng Tuyền.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Tăng Tài Thủ.

2. Ông Lê Hồng Vũ.

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt – Thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Hồng Quốc Vệ - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:

Huỳnh Thị Lệ T, sinh năm: 1994; nơi đăng ký thường trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Hồng Tấn T1 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Bé S, sinh năm: 1977; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/7/2024 đến ngày 30/10/2024 tại phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có mặt).

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Võ Thanh L – sinh năm 1995. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

1/ Anh Võ Thanh L – sinh năm 1993. Địa chỉ: khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt.

2/ Anh Nguyễn Quốc T2 – sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp M, xã M, thị xã C, tỉnh Tiền Giang. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 19 giờ 30 phút ngày 17 tháng 7 năm 2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T phối hợp với Công an phường T tiến hành khám xét khẩn cấp người, chỗ ở của Huỳnh Thị Lệ T tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ phát hiện thu giữ:

  • - 01 (một) gói nilon không màu, nẹp miệng, bên trong có chứa tinh thể không màu (Niêm phong gói M1).
  • - 01 (một) ống thủy tinh bên trong có chứa tinh thể màu nâu nhạt (Niêm phong gói M2) (Bút lục 8, 34).

Quá trình điều tra xác định: Vào khoảng 17 giờ ngày 17 tháng 7 năm 2024, Huỳnh Thị Lệ T đang ở nhà trọ K thuộc khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ thì gặp người tên L, T hỏi mua ma túy với giá 250.000 đồng, L đồng ý và điều khiển xe đi khoảng 15 phút thì quay lại đưa cho T gói ma túy. Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, T lấy gói ma túy đã mua của L, lấy một phần cho vào nỏ thủy tinh để sử dụng thì bị lực lượng chức năng phát hiện.

Tại Kết luận giám định số 192/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của Phòng K1, Công an thành phố C, kết luận (Bút lục 29):

  • - Mẫu ký hiệu M1 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,1822 gam;
  • - Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,0287 gam.

Quá trình điều tra T không có ý kiến hay khiếu nại gì đối với kết luận giám định nêu trên.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo quy định.

Tại Cáo trạng số 104/CT-VKSTN ngày 23 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt - thành phố Cần Thơ truy tố bị cáo Huỳnh Thị Lệ T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật Hình sự).

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt truy tố.

Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, không bổ sung gì thêm; đồng thời phát biểu quan điểm luận tội phân tích hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Trên cơ sở đó đề nghị: Tuyên bố bị cáo Huỳnh Thị Lệ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2

- Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Đề nghị xử phạt bị cáo Huỳnh Thị Lệ T mức án từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù.

Hình phạt bổ sung: Miễn cho bị cáo do không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định.

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Bộ luật Tố tụng hình sự) đề nghị.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 192/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của phòng K1 Công an thành phố C bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút.

- Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không tham gia tranh luận, đồng thời bị cáo nói lời sau cùng: bị cáo đã ăn năn, hối cải về hành vi đã phạm, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm trở về với gia đình phấn đấu sống có ích.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an quận T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thốt Nốt, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đều không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, trong điều tra đã thu thập rõ lời khai của những người vắng mặt, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lại lời khai tại Toà. Do đó, việc vắng mặt của người liên quan, người làm chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.

[3] Về hành vi, căn cứ xác định tội phạm: Trong điều tra và qua tranh tụng tại phiên toà, bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội. Các lời khai của bị cáo phù hợp nhau và phù hợp với các chứng cứ như các biên bản về hoạt động điều tra, lời khai của người liên quan, người làm chứng và kết luận giám định... Như vậy, có cơ sở xác định vào ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại khu vực Q, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ, bị cáo Huỳnh Thị Lệ T có hành vi cất giấu một gói ma túy để nhằm mục đích sử dụng với khối lượng ma túy bị thu giữ qua giám định là 0,1822 gam, loại Methamphetamine và ma túy trong nỏ thủy tinh với khối lượng

3

ma túy bị thu giữ qua giám định là 0,0287 gam, loại Methamphetamine. Hành vi sai trái mà bị cáo thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

[4] Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Xét, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhưng không chịu phấn đấu sống có ích, lại tiêm nhiễm thói hư tật xấu, sa đà vào nghiện ngập. Mặc dù, hoàn toàn nhận thức được tác hại của chất ma túy cũng như biết được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo vẫn bất chấp pháp luật tàng trữ trái phép ma túy để sử dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của bản thân. Hành vi bị cáo thực hiện đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy; gây nguy hại đối với xã hội, nhất là trong tình hình hiện nay có nhiều người nghiện ma túy và tội phạm về ma tuý ngày càng phổ biến, đã xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và đời sống văn hóa lành mạnh của nhân dân, đồng thời cũng là nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội khác. Do vậy, cần thiết xử lý nghiêm để giáo dục đối với cá nhân vi phạm cũng như đảm bảo tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[5] Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa tiền án và tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải, tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đang mang thai nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ theo điểm s, n khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để xem xét giảm nhẹ phần nào hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[8] Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử thống nhất đề nghị của đại diện Viện kiểm sát miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.

[9] Về xử lý vật chứng: như đại diện Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[10] Về vấn đề khác: Đối với việc Huỳnh Thị Lê T3 khai mua ma túy của người tên L, Cơ quan điều tra tiến hành xác minh xác định người tên L là Võ Thanh L. Qua làm việc Võ Thanh L không thừa nhận hành vi bán ma túy cho Huỳnh Thị Lệ T. Ngoài lời khai của T thì không còn tài liệu hay chứng cứ chứng minh L là người bán ma túy cho T nên chưa đủ căn cứ để xử lý. Cần kiến nghị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý theo quy định.

[11] Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[12] Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

4

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s, n khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

* Tuyên bố: Bị cáo Huỳnh Thị Lệ T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Huỳnh Thị Lệ T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Hình phạt bổ sung: miễn cho bị cáo.

* Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 192/KL-KTHS ngày 23/7/2024 của phòng K1 Công an thành phố C bên trong có chứa ma túy, loại Methamphetamine còn lại sau giám định; 01 (một) chai nhựa có gắn ống hút.

* Vấn đề khác: Kiến nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T tiếp tục xác minh làm rõ đối với đối tượng tên Võ Thanh Lâm T4 khai có hành vi bán ma túy cho T4, xử lý theo quy định.

* Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Huỳnh Thị Lệ T nộp số tiền 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi Cục Thi hành án Dân sự quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ.

* Về quyền kháng cáo: Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định.

* Về quyền, nghĩa vụ và thời hạn thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND Q. Thốt Nốt;
  • - Công an Q. Thốt Nốt;
  • - Chi cục THA DS Q. Thốt Nốt;
  • - Bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Thị Mộng Tuyền

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ về hình sự (sơ thẩm) - tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Sơ thẩm) - Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỐT NỐT - THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thốt Nốt, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự đã thụ lý số 97/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo: Huỳnh Thị Lệ T, sinh năm: 1994; nơi đăng ký thường trú: Khu vực P, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger