|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST Ngày: 18-11-2024. V/v tranh chấp Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Bình.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Thái Trung Nghĩa;
- Ông Triệu Láth.
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Gia An - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 10 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 85/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trần Thị P, sinh năm 1986.
- Bị đơn: Ông Thạch Ma R, sinh năm 1979.
Địa chỉ: số nhà 58, ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Địa chỉ: số nhà 65, ấp T, xã V, thị xã V, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2024, đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 28/10/2024 nguyên đơn là bà Trần Thị P trình bày:
Bà Trần Thị P và ông Thạch Ma R tự nguyện sống chung với nhau như vợ chồng, có đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2012 tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Tân, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trong thời gian đầu chung sống rất hạnh phúc nhưng một thời gian sau thì bà Trần Thị P và ông Thạch Ma R phát sinh nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm trong lối sống, tính cách, cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Bà Trần Thị P và ông Thạch Ma R đã sống ly thân từ tháng 6/2016 cho đến nay.
Trong thời gian chung sống, bà Trần Thị P và ông Thạch Ma R có 02 con chung là cháu Thạch Trần Phúc A (giới tính: nam), sinh ngày 03/3/2009 và cháu Thạch Trần Quan A1 (giới tính: nam), sinh ngày 17/02/2011. Hiện 02 cháu đang sống với bà Trần Thị P.
Nay nhận thấy hạnh phúc gia đình tan vỡ, không thể hàn gắn được, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà Trần Thị P yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu xin ly hôn với ông Thạch Ma R, sinh năm 1979.
- Về con chung: Yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 người con chung là cháu Thạch Trần Phúc A (giới tính: nam), sinh ngày 03/3/2009 và cháu Thạch Trần Quan A1 (giới tính: nam), sinh ngày 17/02/2011. Bà Trần Thị P không yêu cầu ông Thạch Ma R cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
- Nợ chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Bà P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bà và bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện theo đơn khởi kiện ngày 07/10/2024.
Đối với bị đơn ông Thạch Ma R: Trong quá trình giải quyết vụ án ông không có ý kiến gì và cũng không yêu cầu phản tố.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
Tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị P vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Thạch Ma R vắng mặt lần thứ hai không rõ lý do. Xét thấy trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã tống đạt hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng của Tòa án cho ông R nhưng ông R không có ý kiến gì nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà P, ông R theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về quan hệ hôn nhân:
Bà P và ông R có đăng ký kết hôn vào ngày 17/9/2012, do bất đồng quan điểm sống dẫn đến mâu thuẩn gay gắt nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2016 cho đến nay. Ông R biết việc bà P khởi kiện nhưng ông không đến Tòa án để tham gia tố tụng. Ông R không có ý kiến gì về con chung. Xét thấy, mối quan hệ vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn đã thật sự tan vỡ, không còn khả năng hàn gắn, đoàn tụ. Bởi lẽ, theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã đủ cơ sở để xác định cuộc sống vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên nguyên đơn yêu cầu ly hôn bị đơn là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[3] Về con chung:
Theo lời trình bày của nguyên đơn và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, giữa nguyên đơn và bị đơn có 02 con chung là cháu Thạch Trần Phúc A (giới tính: nam), sinh ngày 03/3/2009 và cháu Thạch Trần Quan A1 (giới tính: nam), sinh ngày 17/02/2011, cả 02 cháu hiện đang sống với bà P. Nguyên đơn yêu cầu được tiếp tục được nuôi con chung, không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng. Riêng bị đơn không có ý kiến gì về con chung.
Xét thấy, con chung đang được nguyên đơn nuôi dưỡng ổn định từ khi sinh ra đến nay, đồng thời để tránh những xáo trộn trong đời sống, tâm sinh lý, gây ra những ảnh hưởng không tốt đến việc phát triển bình thường của con chung nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về nuôi con chung của nguyên đơn, giao các con chung là cháu Thạch Trần Phúc A (giới tính: nam), sinh ngày 03/3/2009 và cháu Thạch Trần Quan A1 (giới tính: nam), sinh ngày 17/02/2011 hiện đang sống với nguyên đơn cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật. Việc giao con chung cho nguyên đơn tiếp tục nuôi dưỡng cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu Thạch Trần Phúc A và cháu Thạch Trần Quan A1. Do nguyên đơn không yêu cầu bị đơn cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[4] Về tài sản chung:
Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[5] Về nợ chung:
Do nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
[6] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào các Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị P ly hôn ông Thạch Ma R.
- Về con chung: Giao các con chung là cháu Thạch Trần Phúc A (giới tính: nam), sinh ngày 03/3/2009 và cháu Thạch Trần Quan A1 (giới tính: nam), sinh ngày 17/02/2011 hiện đang sống với bà Trần Thị P cho bà Trần Thị P trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục đến khi cháu A và cháu A1 đủ 18 tuổi theo quy định của pháp luật, theo nguyện vọng của cháu Thạch Trần Phúc A và cháu Thạch Trần Quan A1. Ông Thạch Ma R có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Ông Thạch Ma R không cấp dưỡng nuôi con chung do bà Trần Thị P không yêu cầu.
- Về tài sản chung: Do bà Trần Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
- Về nợ chung: Do bà Trần Thị P không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét trong vụ án này.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thị P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng bà Trần Thị P đã nộp 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0004966 ngày 07/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu không nộp thêm. Ông Thạch Ma R không chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Báo cho các đương sự được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Bình |
Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà P xin ly hôn ông R
