Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày: 18/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU - TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Năm.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Xuân Giới và ông Trần Văn Nam.

Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Mạnh Hùng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đức Trọng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 18/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 117/2024/QĐXXST-HS ngày 05/11/2024 đối với bị cáo:

Hoàng Văn H - Tên gọi khác: không; sinh ngày: 01/01/1964 tại thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nơi thường trú: thôn A V, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 04/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn T và bà Đào Thị T1; có vợ là Nguyễn Thị L, có 02 con, lớn sinh năm 1990, nhỏ sinh năm 1992; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị cáo hiện tại ngoại, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Anh Lê Văn L1, sinh năm 1972; địa chỉ: thôn A V, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, vắng mặt tại phiên tòa có đơn xin xét xử vắng mặt.

Những người làm chứng: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1967; địa chỉ: thôn A V, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh và ông Đào Văn H1, sinh năm 1961; địa chỉ: thôn A V, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, bà L có mặt, ông H1 vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hoàng Văn H và anh Lê Văn L1 (sinh năm 1972) đều trú tại Thôn A - V, xã N, thành phố Đ. Hài có cho anh L1 mượn tiền để chi tiêu cá nhân. Sau đó, H nhiều lần đòi anh L1 trả tiền nhưng do mâu thuẫn về số tiền vay và anh L1 chưa có tiền trả nên giữa H và anh L1 xảy ra xích mích.

Khoảng 18 giờ ngày 15/5/2024, H đi sang nhà ông Đào Văn H1 ở cùng Thôn A - V chơi, thì gặp anh L1 cũng đang ở nhà ông H1, nên H tiếp tục yêu cầu anh L1 trả tiền vay. Anh L1 hẹn sang tháng sẽ trả tiền nhưng H không đồng ý nên giữa hai người xảy ra cãi chửi nhau. Hài có dùng tay đấm 01 cái vào vùng mặt của anh L1 (không để lại thương tích), anh L1 đẩy Hài ra, thì ông H1 can ngăn và yêu cầu cả hai đi về nhà. Khi về đến nhà, H thấy anh L1 đạp xe chuẩn bị đi qua khu nhà mình nên đã đi ra khu vực chuồng gà, lấy 01 chiếc gậy kim loại, dài 1,78m, đường kính 2,6cm, cầm ra cổng mục đích để đánh anh L1. Khi anh L1 đạp xe đi đến, H tiếp tục đòi anh L1 trả tiền vay nhưng anh L1 không trả nên giữa hai người tiếp tục xảy ra cãi chửi nhau. Lúc này, H cầm gậy kim loại vụt 01 (một) cái vào vùng mạn sườn bên trái của anh L1 gây thương tích, anh L1 bỏ chạy về nhà, sau đó được đưa đi cấp cứu. Cùng ngày, chị Đào Thị Ú (vợ anh L1) đã đến Công an xã N, thành phố Đ trình báo. Cơ quan điều tra đã thu giữ chiếc gậy kim loại H dùng để gây thương tích cho anh L1, ngoài ra còn thu giữ 01 chiếc gậy bằng tre, hình trụ tròn dài 02m, đường kính 02cm.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương về cơ thể trên người sống số 470/KLTTCT-TTPY ngày 24/6/2024, của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Q, kết luận thương tích của anh Lê Văn L1:

- Chấn thương ngực trái, tổn thương như sau: Gãy xương sườn 5, 6, 7, 8 bên trái. Tràn dịch khoang màng phổi trái, hiện tại khoang màng phổi hai bên không thấy bất thường.

- Kết luận: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của anh Lê Văn L1 tại thời điểm giám định là 11% (Mười một phần trăm). Tổn thương nêu trên do vật tày tác động trực tiếp gây nên.

Bị cáo Hoàng Văn H khẳng định chỉ có một mình bị cáo dùng gậy kim loại đánh gây thương tích cho anh L1. Bị cáo đã bồi thường cho bị hại anh Lê Văn L1 số tiền là 39.000.000 đồng, anh L1 không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn đề nghị giảm nhẹ hình phạt trách nhiệm hình sự cho bị cáo H.

Anh L1 có lời khai khẳng định khoảng tháng 12 năm 2023 anh L1 vay tiền của bị cáo H 1.000.000đ, khoảng hai tuần sau anh vay tiếp của bị cáo H 7.00.000đ, tổng số tiền mà anh vay của bị cáo H là 1.700.000đ hẹn đến tết sẽ trả, khi vay hai bên không ký kết giấy tờ gì và cũng không có thỏa thuận về lãi suất. Sau đó bị cáo H sang đòi anh nhưng do chưa có tiền nên anh chưa trả bị cáo H. Nhưng mặt khác, bị cáo H có nói với anh số tiền anh nợ bị cáo H 3.700.000đ là không đúng nên xảy ra mâu thuẫn. Sau đó dẫn đến cãi vã nhau tại nhà ông H1 và việc bị cáo H dùng gậy kim loại đánh anh gây thương tích. Sau khi xảy ra sự việc, bị cáo H đã bồi thường cho anh số tiền 39.000.000đ. Sau đó, trong quá trình anh ở nhà điều trị, bị cáo H hỗ trợ cho anh thêm số tiền 3.000.000đ để anh đi khám sức khỏe ở bệnh viện tỉnh Q. Vì vậy, anh đề nghị cơ quan thi hành pháp luật giảm nhẹ hình phạt đối với hành vi vi phạm pháp luật của bị cáo H.

Những người làm chứng cùng có lời khai phù hợp với quá trình diễn biến sự việc bị cáo H gây thương tích cho anh L1.

Tại cáo trạng số 2324/CT-VKS-ĐT ngày 21/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo Hoàng Văn H về tội “Cố ý gây thương tích" theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự (với tình tiết quy định khung hình phạt “dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Những chứng cứ, tài liệu do cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập cũng như do người tham gia tố tụng cung cấp đều bảo đảm đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trình tự, thủ tục thu thập, bảo quản chứng cứ nên được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp. Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố và xét xử được Hội đồng xét xử đánh giá là hợp pháp.

[2] Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời khai của bị cáo tại phiên tòa, đã xác định được như sau: Khoảng 18 giờ ngày 15/5/2024, tại Thôn A - V, xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh, do có mâu thuẫn trong việc vay mượn tiền, Hoàng Văn H đã có hành vi dùng 01 gậy kim loại đánh vào vùng mạn sườn bên trái anh Lê Văn L1 gây thương tích, làm anh L1 bị tổn thương cơ thể với tỷ lệ là 11% (mười một phần trăm).

[3] Hoàng Văn H dùng gậy kim loại là hung khí nguy hiểm gây thương tích cho bị hại Lê Văn L1, tổn thương cơ thể 11% nên hành vi của Hoàng Văn H đã phạm vào tội: “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự.

[4] Hành vi của Hoàng Văn H là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khỏe của người khác. Bị cáo là người thành niên, có đầy đủ khả năng nhận thức, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, đối chiếu với các yếu tố cấu thành tội phạm đủ căn cứ khẳng định Hoàng Văn H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134) Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng một hình phạt tương xứng với hành vi của bị cáo để đảm bảo tính răn đe giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị áp dụng điều luật cũng như mức hình phạt đối với bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Triều là có căn cứ, đúng pháp luật nên chấp nhận. Quan điểm của đại diện bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là nhân văn nên được chấp nhận.

[6] Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu; thành khẩn khai báo đã chủ động bồi thường cho bị hại và được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt; bị cáo là người khuyết tật vận động nặng và là người thờ cúng liệt sỹ; trong vụ án này, người bị hại cũng có một phần lỗi khi vay tiền của bị cáo đã không trả bị cáo còn có lời nói gây căng thẳng cho bị cáo nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo các điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ, nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự để áp dụng một mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà bị cáo bị áp dụng.

[7] Về tình tiết tăng nặng: không có.

[8] Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ, nhân thân của bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, tuy nhiên bị cáo phạm tội do nhất thời thiếu suy nghĩ, có nơi cư trú rõ ràng; có nhiều tình tiết giảm nhẹ; gia đình có truyền thống cách mạng nên có khả năng tự cải tạo. Do đó chưa cần thiết phải cách ly bị cáo khởi đời sống xã hội mà để bị cáo cải tạo trong sự giáo dục, giám sát của chính quyền địa phương và gia đình cũng đủ giáo dục, răn đe bị cáo. Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo hình phạt tù với thời gian phù hợp cho bị cáo hưởng án treo với thời gian thử thách thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Đối với biện pháp ngăn chặn mà bị cáo đang bị áp dụng là “Cấm đi khỏi nơi cư trú” và “Tạm hoãn xuất cảnh” cần được hủy bỏ.

[9] Về phần dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 39.000.000đ và hỗ trợ khám sức khỏe 3.000.000đ, bị hại không có yêu cầu bồi thường thêm nên không đề cập xử lý.

[10] Vật chứng vụ án: Đối với 01 chiếc gậy kim loại, dài 1,78m, đường kính 2,6cm không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

[11] Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo trong phạm vi và thời hạn luật định.

[13] Bị cáo là người cao tuổi, người khuyết tật, có đề nghị xin được miễn án phí nên Hội đồng xét xử miễn án phí cho bị cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: điểm đ khoản 2 Điều 134 (thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134); các điểm b, s, p khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự;

Xử phạt: bị cáo Hoàng Văn H 18 (Mười tám) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” cho hưởng án treo, thời gian thử thách 36 (Ba mươi sáu) tháng kể từ ngày tuyên án (18/11/2024).

Giao bị cáo Hoàng Văn H cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố Đ, tỉnh Quảng Ninh giám sát giáo dục trong thời gian thử thách, gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 (một) gậy kim loại, dài 1,78m, đường kính 2,6cm. (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Đ và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Triều ngày 22/10/2023).

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú số: 106/2024/HSST-LCĐKNCT ngày 08 tháng 11 năm 2024 và Quyết định tạm hoãn xuất cảnh số: 232/2024/QĐTHXC-TA ngày 08/11/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh.

Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Miễn án phí hình sự cho bị cáo Hoàng Văn H.

Về quyền kháng cáo: Áp dụng: khoản 1, khoản 5 Điều 331; khoản 1 Điều 332; khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo luật định./.

Nơi nhận:

- Bị cáo; Bị hại.

- VKSND thành phố Đông Triều;

- Cơ quan CSĐT CATX. Đông Triều

- Cơ quan THAHS CATX.Đông Triều;

- Chi cục THADS thành phố Đông Triều;

- VKSND tỉnh Quảng Ninh;

- TAND tỉnh Quảng Ninh;

- Sở Tư pháp tỉnh Quảng Ninh

- Lưu hồ sơ + THA

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

(đã ký)

Nguyễn Văn Năm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 18/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH về cố ý gây thương tích (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG TRIỀU, TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn H bị truy tố về tội Cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger