|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2024/HS-ST
Ngày 11 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Diên Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Phạm Văn Tình;
2. Bà Vũ Thị Thịnh;
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Linh, Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Lý - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 92/2024/TLST - HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST - HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 và Q hoãn phiên toà số: 28/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Danh V, tên gọi khác: Không, sinh năm 1986, tại huyện C, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Tổ dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): Lớp 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương T và bà Lê Thị L; Vợ: Trần Thị P (đã ly hôn), con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Theo bản án số 891 ngày 07/11/2023 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm tuyên phạt 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù tại P, Trại giam P1, Bộ C, có mặt.
- Bị hại:
1. Anh Vũ Tiến D, sinh năm 1994; Anh Dũng uỷ quyền cho chị Nguyễn Thị L1, sinh năm 1997 (là vợ anh D);
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt.
2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992; Anh H uỷ quyền cho chị Trần Thị D1, sinh năm 1995 (là vợ anh H);
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt.
3. Chị Tô Thị H1, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
1. Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Tiến D:
Vào khoảng giữa tháng 03/2023 do có nhu cầu muốn đi xuất khẩu lao động nên anh Vũ Tiến D tìm hiểu trên trang mạng xã hội Facebook và thấy tài khoản Facebook có tên “Dương Tuấn V1” của bị cáo Dương Danh V có đăng tải nhiều thông tin về việc tuyển người đi xuất khẩu lao động sang nước Newzealand nên anh D đã kết bạn làm quen. Sau đó Dương Danh V cho anh D số điện thoại 0369.385.xxx để kết bạn qua ứng dụng Zalo nhắn tin giao dịch với nhau về việc đi xuất khẩu lao động sang nước N. Qua trao đổi, Dương Danh V tự giới thiệu là nhân viên của Công ty H4 và được công ty giao nhiệm vụ tìm và tuyển người đi xuất khẩu lao động sang nước N. Ngoài ra, Dương Danh V cho biết có thể đưa Vũ Tiến D sang nước Newzealand để làm việc dán tem hoa quả tại siêu thị và thủ tục làm trong khoảng thời gian 4 đến 6 tháng thì sẽ đi được với tổng chi phí là 15.000USD, đồng thời Dương Danh V yêu cầu anh D phải nộp tiền cọc ban đầu là 1000USD. Sau đó, Dương Danh V đã hướng dẫn anh Vũ Tiến D chuẩn bị một số loại giấy tờ liên quan gồm: Sơ yếu lý lịch, ảnh thẻ, phiếu lý lịch tư pháp, phô tô thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu và các loại giấy tờ khác gửi ra Hà Nội cho Dương Danh V làm hồ sơ. Sau khi nhận được giấy tờ, Dương Danh V yêu cầu anh Vũ Tiến D phải chuyển tiền cọc cho Dương Danh V nên ngày 07/4/2023, Vũ Tiến D sử dụng số tài khoản của mình là 187221197 (Ngân hàng V2) để chuyển vào tài khoản của Dương Danh V là 0201000633089 (Ngân hàng V3) số tiền 23.500.000đ tương đương với 1000USD. Sau khi nhận tiền, Dương Danh V tự viết một phiếu thu với danh nghĩa của Công ty H4 về việc thu số tiền trên của Vũ Tiến D, trên phiếu thu Dương Danh Vũ tự viết người lập phiếu là Dương Danh V; người nộp tiền là Vũ Tiến D; kế toán trưởng là Nguyễn Thị H2, đóng dấu màu đỏ dòng chữ “Đã thu tiền” đề ngày 07/4/2023 rồi chụp lại và gửi cho Vũ Tiến D qua ứng dụng Zalo. Đến ngày 24/4/2023, Dương Danh V hẹn gặp Vũ Tiến D tại căng tin công ty H4 để ký hợp đồng. Tại đây Dương Danh V đưa cho Vũ Tiến D ký 02 bộ hồ sơ để anh D ủy quyền cho Dương Danh V làm thủ tục cho anh Vũ Tiến D đi xuất khẩu lao động tại nước N. Sau khi ký hợp đồng xong, Dương Danh V tự viết một bản cam kết đề ngày 24/04/2023 nội dung Vũ Tiến D ký hợp đồng lao động đóng gói siêu thị N1 và cam kết xử lý đúng như hợp đồng và giao cho Vũ Tiến D cầm bản gốc. Sau đó, Dương Danh V tiếp tục yêu cầu Vũ Tiến D chuyển số tiền 50.000.000đ vào số tài khoản của V gọi là tiền cọc thêm. Tại công ty H4, Vũ Tiến D đã chuyển cho Dương Danh V qua số tài khoản trên của V số tiền 50.000.000đ. Sau khi nhận được tiền, Dương Danh V tự viết một phiếu thu với danh nghĩa của công ty H4 về việc thu số tiền mà Vũ Tiến D đã nộp tổng cộng trong hai lần trên là 73.500.000đ với nội dung tương tự như trên phiếu thu mà Dương Danh V đã tự
viết cho anh D rồi chụp lại và gửi cho anh D qua ứng dụng Zalo. Sau khi nhận được tiền, Dương Danh V đã sử dụng để mua tài liệu và tiêu xài cá nhân hết.
2. Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Nguyễn Văn H
Khoảng đầu tháng 03/2023, do có nhu cầu muốn đi xuất khẩu lao động nên anh Nguyễn Văn H tìm hiểu và được người quen cho số điện thoại của Dương Danh V là 0369385985 để kết bạn trên ứng dụng Zalo. Sau đó anh Nguyễn Văn H và chị Trần Thị D1 (sinh năm 1995, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q là vợ anh H) nhiều lần nhắn tin với Dương Danh V và nói có nguyện vọng đi xuất khẩu lao động tại nước N thì Dương Danh V tự giới thiệu với vợ chồng anh Nguyễn Văn H là nhân viên của Công ty H4 và được công ty giao nhiệm vụ tìm và tuyển người đi xuất khẩu lao động sang nước N. Dương Danh V cho biết có thể đưa anh H sang nước Newzealand khoảng thời gian 4 đến 6 tháng với tổng chi phí là 15.000USD và nộp tiền cọc ban đầu là 1000USD. Đến ngày 13/03/2023 Dương Danh V hẹn gặp anh Nguyễn Văn H tại căng tin Công ty H4 để trao đổi. Tại đây Dương Danh V viết một bản cam kết đưa cho anh H với nội dung trong thời gian từ 4-6 tháng thì anh H sẽ hoàn thành thủ tục để xuất khẩu lao động sang nước N và đưa cho Nguyễn Văn H cầm giữ bản gốc. Đến ngày 16/03/2023, Dương Danh V yêu cầu anh Nguyễn Văn H chuyển tiền cọc nên chị Trần Thị D1 đã sử dụng tài khoản của mình là 1019407928 (Ngân hàng V4) chuyển vào tài khoản Ngân hàng V2 của Dương Danh V số tiền 23.500.000₫ tương đương với 1000USD. Sau khi nhận tiền, Dương Danh V tự viết một phiếu thu với danh nghĩa của Công ty H4 về việc đã thu số tiền trên. Trên phiếu thu Dương Danh Vũ tự viết người lập phiếu là Dương Danh V; người nộp tiền là Nguyễn Văn H; kế toán trưởng là Nguyễn Thị H2, đóng dấu màu đỏ dòng chữ “Đã thu tiền”, đề ngày 16/03/2023 về việc thu số tiền trên của Nguyễn Văn H rồi chụp lại và gửi cho H qua mạng Zalo. Sau khi nhận được tiền, Dương Danh V không làm bất kỳ thủ tục, hồ sơ gì về việc đưa anh H xuất khẩu lao động sang nước N. Số tiền này Dương Danh V đã tiêu xài cá nhân hết.
3. Hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Tô Thị H1
Khoảng đầu tháng 03/2023, do có nhu cầu muốn cho con trai là Ngô Trí Đ đi xuất khẩu lao động nên chị Tô Thị H3 đã tìm hiểu và được người quen cho số điện thoại của Dương Danh V để kết bạn qua ứng dụng Zalo nhắn tin trao đổi nhờ Dương Danh V làm hồ sơ cho con trai là Ngô Trí Đ đi xuất khẩu lao động. Qua trao đổi, Dương Danh V tự giới thiệu là nhân viên của Công ty H4 và được công ty giao nhiệm vụ tìm và tuyển người đi xuất khẩu lao động sang nước N. Dương Danh V cho biết có thể đưa Ngô Trí Đ sang nước N trong khoảng thời gian 4 đến 6 tháng với tổng chi phí là 15.000USD và nộp tiền cọc ban đầu là 1000USD. Sau đó Dương Danh V hẹn gặp con trai chị Tô Thị H1 là anh Ngô Trí Đ tại căng tin Công ty H4 để bàn bạc. Tại đây, Dương Danh V viết một bản cam kết đưa cho anh Ngô Trí Đ với nội dung trong thời gian từ 4-6 tháng sẽ đi được và giao cho anh Ngô Trí Đ cầm bản gốc. Sau khi gặp anh Ngô Trí Đ xong, Dương Danh V yêu cầu chị Tô Thị H1 chuyển số tiền cọc 1000USD tương
đương số tiền 23.500.000đ và 1.500.000đ là tiền để Dương Danh V làm bằng tốt nghiệp cấp 2 cho Ngô Trí Đ (vì Ngô Trí Đ chưa có bằng tốt nghiệp Trung học cơ sở). Ngày 20/3/2023 chị Tô Thị H1 đã nhờ anh Trần Văn M (sinh năm 1995, trú tại xã S, huyện Q) sử dụng số tài khoản 108867590366, ngân hàng V2 chuyển vào tài khoản ngân hàng V2 của V số tiền là 23.500.000đ là tiền cọc, còn số tiền 1.500.000đ để nhờ Dương Danh V làm bằng tốt nghiệp cấp 2 cho Ngô Trí Đ thì chị Tô Thị H1 chưa chuyển. Sau khi nhận tiền, Dương Danh V tự viết một phiếu thu đề ngày 20/3/2024 với danh nghĩa của Công ty H4 về việc thu số tiền 23.500.000đ có nội dung người nộp tiền là Ngô Trí Đ; kế toán trưởng là Nguyễn Thị H2, đóng dấu màu đỏ dòng chữ “Đã thu tiền” rồi chụp lại và gửi cho chị Tô Thị H1 qua ứng dụng Zalo. Sau khi nhận được tiền, Dương Danh V không gặp ai và không đến cơ quan, tổ chức nào để làm hồ sơ, thủ tục xuất khẩu lao động cho anh Ngô Trí Đ. Số tiền này Dương Danh V đã tiêu xài cá nhân hết.
* Việc thu giữ, tạm giữ đồ vật tài liệu và xử lý vật chứng:
- Bị hại Vũ Tiến D giao nộp:
- + 01 phiếu thu đề ngày 07/04/2023, ghi đơn vị Hoàng L2, quyển số 12, số 381, ghi các thông tin người nộp tiền: Vũ Tiến D, địa chỉ: Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; lý do nộp: Nộp cọc xử lý hồ sơ đi lao động Newzealand, đơn đóng gói siêu thị, số tiền 23.500.000đ. Người nộp ký tên Vũ Tiến D, người lập ký tên Dương Danh V, kế toán trưởng ký tên Nguyễn Thị H2 (bản phô tô);
- + 01 phiếu thu đề ngày 24/04/2023, ghi các thông tin người nộp tiền: Vũ Tiến D, địa chỉ:Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; lý do nộp: Nộp tiền xử lý hồ sơ số tiền 73.500.000đ. Người nộp ký tên Vũ Tiến D, người lập ký tên Dương Danh V (bản phô tô);
- + 01 bản cam kết thời gian, phí ghi tên người viết cam kết là Dương Danh V với người lao động là Nguyễn Văn H (bản phô tô);
- + 01 tờ giấy in màu trên đó 02 bức hình chân dung, theo trình bày của Vũ Tiến D thì đó là ảnh chân dung của Dương Danh V và 02 hình ảnh chụp thẻ căn cước công dân của Dương Danh V.
- Bị hại Nguyễn Văn H giao nộp:
- + 01 bản cam kết thời gian, phí ghi tên người viết cam kết là Dương Danh V với người lao động là Nguyễn Văn H (bản phô tô)
- + 01 tờ giấy trên đó in màu trên đó 02 bức hình chân dung, theo trình bày của Nguyễn Văn H là ảnh chân dung của Dương Danh V và 02 hình ảnh chụp thẻ căn cước công dân của Dương Danh V.
- + 06 tờ giấy in các nội dung trao đổi và phiếu thu của Dương Danh V gửi cho vợ của Nguyễn Văn H là Trần Thị D1 (bản phô tô).
- Bị hại Tô Thị H1 giao nộp:
- + 01 phiếu thu đề ngày 20/03/2023, ghi đơn vị Hoàng L2, quyển số 12, số 369, ghi các thông tin người nộp tiền: Ngô Trí Đ, địa chỉ: xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An; lý do nộp: Nộp cọc xử lý hồ sơ đi lao động Newzealand. Số tiền 23.500.000đ. Người nộp ký tên Ngô Trí Đ, người lập ký tên Dương Danh V, kế toán trưởng ký tên Nguyễn Thị H2 (bản phô tô)
- + 01 bản cam kết thời gian, phí ghi tên người viết cam kết là Dương Danh V với người lao động là Ngô Trí Đ (bản gốc).
- Công ty H4 giao nộp: Mẫu phiếu thu tiền của công ty sử dụng để thu tiền.
Ngày 24/4/2024, Cơ quan điều tra ban hành Công văn số 257 ngày 24/4/2024 đến Cục Q1 Bộ C để làm rõ trong khoảng thời gian từ tháng 3/2023 đến tháng 4/2024 có tiếp nhận hồ sơ xin cấp hộ chiếu của Vũ Tiến D, Nguyễn Văn H và Ngô Trí Đ không. Tại Công văn số 8678 ngày 25/9/2024 của Cục Q1 trả lời: “Từ tháng 3/2023 đến tháng 4/2024, A08 không tiếp nhận hồ sơ xin cấp hộ chiếu của 03 công dân Vũ Tiến D sinh năm 1994, Nguyễn Văn H sinh năm 1992 và Ngô Trí Đ sinh năm 1998”.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Vũ Tiến D yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 73.500.000đ, anh Nguyễn Văn H yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 23.500.000đ và chị Tô Thị H1 yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 23.500.000đ.
Bản cáo trạng số 100/CT-VKS-QL ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Dương Danh V về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội là đúng như trong bản cáo trạng đã công bố. Bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đúng người, đúng tội, không oan sai.
Trước khi mở phiên toà bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt là 120.500.000đ. Các bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt
Tại phiên tòa Vị đại diện diện Viện kiểm sát huyện Q, tỉnh Nghệ An trong phần luận tội vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố như Cáo trạng đối với bị cáo Dương Danh V đồng thời đề nghị.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 và Điều 56 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Dương Danh V từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Áp dụng Điều 56 Bộ luật Hình sự
Tổng hợp hình phạt chung đối với bản án số 891/2023/HS-PT, ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt. Đối với số tiền 30.000.000đ gia đình bị cáo đã nộp tiền tại chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004355 ngày 08/11/2024 đề nghị Toà án ghi nhận cho các bị hại được nhận lại, cụ thể:
Bồi thường trả anh Vũ Tiến D số tiền 15.000.000 đồng, anh Nguyễn Văn H số tiền 7.500.000 đồng và chị Tô Thị H1 số tiền 7.500.000 đồng.
Phần tranh luận: Tại phiên tòa, bị cáo, các bị hại thống nhất như quan điểm luận tội, không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo, người bị hại xin Hội đồng xét xử xem xét xử phạt nhẹ cho Dương Danh V ở mức đầu khung hình phạt.
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của vị đại diện Viện Kiểm sát, bị cáo, các bị hại cùng những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Q, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Tại phiên toà bị cáo Dương Danh V đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Trong khoảng thời gian từ 03/2023 đến tháng 4/2023, Dương Danh V không phải là nhân viên của Công ty cổ phần H4 (có trụ sở tại 7 đường T, phường Đ, quận B, Thành phố Hà Nội) nhưng đã đưa ra thông tin gian dối là nhân viên của Công ty H4 để thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản bằng hình thức xuất khẩu lao động sang nước N. Cụ thể, Dương Danh V đã lừa đảo chiếm đoạt của anh Vũ Tiến D (sinh năm 1994, trú tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) số tiền 73.500.000 đồng, chiếm đoạt của anh Nguyễn Văn H (sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) số tiền 23.500.000 đồng và chiếm đoạt của chị Tô Thị H1 (sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An) số tiền 23.500.000 đồng. Tổng số tiền Dương Danh V đã chiếm đoạt là 120.500.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo Dương Danh V đã đủ yếu tố cấu thành tội
Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quỳnh Lưu truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Bị cáo hoàn toàn có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân,xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội nên cần phải xử lý nghiêm, cách ly ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
[3] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự bị cáo đã 03 (ba) lần thực hiện hành vi Lừa đảo chiếm đoạt tài sản của anh Vũ Tiến D, anh Nguyễn Văn H và chị Tô Thị H1 nên phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Ngày 07/11/2023 bị Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm tuyên phạt 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Bị cáo hiện đang chấp hành án phạt tù tại P, Trại giam P1, Bộ C.
- - Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năm hối cải, ngoài ra bị cáo đã tác động gia đình bồi thường đầy đủ cho bị hại và các bị hại cũng làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[4] Xét thấy, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức hình phạt mà đại diện Viện Kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về hình phạt bổ sung: Các tài liệu có trong hồ sơ cho thấy bị cáo đang đi chấp hành án phạt tù, không có nghề nghiệp, thu nhập không có, kinh tế khó khăn. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về vật chứng: Tại phiên toà bị cáo khai nhận chiếc điện thoại để đăng thông tin trên mạng xã hội cũng như liên lạc với bị hại đã mất nên không giao nộp cho cơ quan điều tra. Do đó, Viện kiểm sát củng không có cở sở để đề nghị xử lý vật chứng. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xem xét.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại đầy đủ nhưng số tiền còn lại gia đình bị cáo đã nộp 30.000.000₫ (Ba mươi triệu) đồng tại chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004355 ngày 08/11/2024 thì cần ghi nhận và trả lại cho các bị hại. Ngoài ra, các bị hại không có yêu cầu gì thêm về dân sự.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[9] Về quyền kháo cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 174; điểm g khoản 1 Điều 52, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Dương Danh V 24 (Hai mươi bốn) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
- Căn cứ Điều 56 Bộ luật Hình sự.
Tổng hợp hình phạt 42 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” của bản án số 891/2023/HS-PT, ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Buộc bị cáo Dương Danh V phải chấp hành hình phạt chung của 02(hai) bản án là 66 (Sáu mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, tạm giam của bản án số 891/2023/HSST ngày 07/11/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là ngày 27/4/2023.
- Trách nhiện bồi thường dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận giữa bị cáo và các bị hại về bồi thường dân sự đối với số tiền 30.000.000đ (Ba mươi triệu) đồng mà gia đình bị cáo Dương Danh V đã nộp tại chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An theo biên lai số 0004355 ngày 08/11/2024 để trả cho các bị hại và hưởng kỹ phần như sau:
- Anh Vũ Tiến D, sinh năm 1994; trú tại thôn Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được nhận số tiền 15.000.000đ (Mười lăm triệu) đồng theo biên lai số 0004355 ngày 08/11/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1992, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được nhận số tiền 7.500.000đ (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0004355 ngày 08/11/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Chị Tô Thị H1, sinh năm 1979, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Nghệ An được nhận số tiền 7.500.000₫ (Bảy triệu năm trăm nghìn) đồng theo biên lai số 0004355 ngày 08/11/2024 của chi cục thi hành án dân sự huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ vào Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Dương Danh V phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, 333, 337 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Bị cáo, các bị hại có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Diên Tuấn |
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN về hình sự
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUỲNH LƯU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Dương Danh V phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản quy định tại điểm c khoản 2 Điều 174 BLHS
