Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TIỀN HẢI

TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 104/2024/HS-ST

Ngày: 06 - 11 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Hiền

Bà Tô Thị Hồng Vân

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Lê Huy – Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Tuấn – Kiểm sát viên.

Trong ngày 06 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2024/TLST – HS, ngày 15/10/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 104/2024/QĐXXST – HS, ngày 24/10/2024 đối với, bị cáo: Nguyễn Văn T - sinh ngày 10/5/1962, tại: huyện T, tỉnh Thái Bình; Nơi cư trú: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 6/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Lê Thị T2 (đều đã chết); Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là thứ 2; Có vợ là Nguyễn Thị P và 04 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1995; Tiền án, Tiền sự: Không. Nhân thân: Từ tháng 02/1979 đến tháng 10/1983 tham gia nghĩa vụ quân sự. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.(Có mặt tại phiên tòa)

Bị hại: Anh Nguyễn Văn T3 - sinh năm 1976, địa chỉ: thôn Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.(Vắng mặt)

Người làm chứng:

  • - Bà Nguyễn Thị P1 - sinh năm 1954(Vắng mặt)
  • - Ông Nguyễn Văn H - sinh năm 1961(Vắng mặt)
  • - Bà Đỗ Thị T4 - sinh năm 1958(Vắng mặt)

Đều địa chỉ: thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Buổi chiều ngày 13/6/2024 do đi làm ăn xa, lâu ngày về nhà nên anh Nguyễn Văn T3 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 17B8 - 346.99 mượn của chị Đặng Thị N ở thị trấn T đi về nhà anh trai Nguyễn Văn T ở xã V làm cơm và mời mọi người anh em gần đến ăn uống. Trong lúc ăn uống, anh T3 và T có xảy ra lời qua tiếng lại về việc đóng góp xây dựng nhà thờ nhưng được mọi người can ngăn. Sau đó mọi người không ăn uống nữa, T đi ra đê gần nhà xem trâu bò mình nuôi ra sao còn anh T3 đi sang nhà bà P1 họ hàng gần đó. Đến khoảng 22 giờ, T3 về nhà do vẫn bực tức với T về việc mình có đóng góp xây dựng nhà thờ mà T nói mình không có đóng góp gì nên T3 đã lấy các lon bia uống dở cũng như chưa uống ra đập xuống sân. Lúc này T đã đi ngủ thấy có tiếng động chạy ra nói T3 nhưng T3 không nghe dẫn đến anh em xô xát, T có tát T3 thì T3 làm to chuyện dẫn đến hàng xóm hiểu lầm anh em. Bức tức vì T3 nên T nói đã vậy không anh em gì, tao đốt hết, sau đó T cầm máy cắt cỏ nhãn hiệu Kamastsu ném xuống sân làm xăng ở trong máy cắt cỏ chảy ra đến chỗ để xe máy của T3, rồi T dùng bật lửa đốt máy cắt cỏ làm cháy lan sang xe máy của T3. Lúc này bà P1 cùng hàng xóm sang thấy vậy thì mắng anh em T, T3 và tiến hành dập lửa cháy. Hậu quả làm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 17B8-346.99 của T3 bị cháy phần đầu, làm hư hỏng 47 linh kiện phụ tùng.

Kết luận định giá tài sản số 1257/KLĐG ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện T, xác định: Tổng trị giá tài sản các thiết bị, phụ tùng của xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 17B8-346.99 có giá trị 27.415.000đ.

Tại bản cáo trạng số 109/CT - VKSTH ngày 14/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình đã truy tố: Bị cáo Nguyễn Văn T về tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản" theo điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự.

* Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo. Sau khi xem xét, đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố: Bị cáo phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản". Áp dụng: điểm d khoản 2 Điều 178; Điều 38; Điều 50; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo do bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định và là người cao tuổi.

- Ngoài ra còn đề nghị về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo đối với bị cáo, bị hại.

* Tại phiên tòa: Bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, không có tranh luận gì và nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng hình phạt nhẹ nhất và cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Sau khi xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Trong quá trình tiến hành tố tụng, các cơ quan, người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Việc ban hành các quyết định tố tụng đúng quy định của pháp luật. Bị cáo, bị hại không có khiếu nại, kiến nghị gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như kết luận điều tra, cáo trạng truy tố. Bị cáo khai: Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 13/6/2024, tại nhà Nguyễn Văn T ở thôn T, xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình do có mâu thuẫn với em trai là anh Nguyễn Văn T3 nên Nguyễn Văn T đã ném máy cắt cỏ của gia đình xuống sân làm xăng ở trong máy cắt cỏ chảy ra đến chỗ để xe máy của T3, rồi T dùng bật lửa đốt máy cắt cỏ làm cháy lan sang xe máy của T3. Hậu quả làm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, BKS 17B8-346.99 của T3 bị cháy phần đầu, làm hư hỏng 47 linh kiện phụ tùng, thiệt hại tài sản 27.415.000đ.

[3] Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, quá trình truy tố, là chứng cứ buộc tội và hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh bằng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa như: Đơn trình bày, lời khai của bị hại anh Nguyễn Văn T3; Sơ đồ hiện trường và biên bản khám nghiệm hiện trường do Công an huyện T lập ngày 14/6/2024; Biên bản tạm giữ, niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ do Công an huyện T lập ngày 14/6/2024; Biên bản khám nghiệm phương tiện do Công an huyện T lập ngày 17/6/2024; Các biên bản làm việc về việc kiểm tra, xác định các phụ tùng bị hư hỏng của xe mô tô Honda SH Mode, BKS 17B8-346.99 do Công an huyện T lập ngày 15/6/ 2024; Bản kết luận số 932/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh T loại trừ nguồn nhiệt gây cháy xe là do sự cố chập điện; Bản kết luận định giá tài sản số 1257/KLĐG ngày 10/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T; Lời khai của người làm chứng bà Nguyễn Thị P1, bà Đào Thị T5, ông Nguyễn Văn H; Bản kết luận giám định số 1197/KL-KTHS ngày 24/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N.

[4] Hành vi của bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh đến trật tự, an toàn công cộng, nếp sống văn hóa trong khu dân cư, gây dư luận bức xúc trong nhân dân. Do bức xúc với bị hại bị cáo đã đốt xăng dẫn đến làm thiệt hại cho tài sản do bị hại quản lý. Bị cáo là người trưởng thành có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết được việc đốt xăng sẽ dẫn đến lây lan lửa làm cháy hỏng tài sản của người khác. Mặc dù biết hành vi của mình là nguy hiểm, vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện.

[5]. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đã phạm vào tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 178 của Bộ luật hình sự như truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình là có căn cứ, đúng pháp luật.

Điều 178. Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về một trong các hành vi quy định tại Điều này mà còn vi phạm;

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

...

d) Dùng chất nguy hiểm về cháy, nổ hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đồng đến 100 triệu đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

[6]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; đã bồi thường khắc phục toàn bộ thiệt hại xảy ra; người bị hại có một phần lỗi, cũng như có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, bản thân bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự mà bị cáo được hưởng. Bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu từ trước đến nay chưa bị xử phạt hành chính, kết án.

[7]. Với tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu, có nơi cư trú ổn định rõ ràng và có khả năng tự cải tạo cũng như được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó HĐXX áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt dưới khung hình phạt đối với bị cáo. Mặt khác, xét thấy việc không bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng ngừa tội phạm nên HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách với bị cáo cũng đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Bị cáo lao động tự do, thu nhập không ổn định và là người cao tuổi nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã tự nguyện thoả thuận bồi thường xong cho nhau, bị hại không yêu cầu về bồi thường trách nhiệm dân sự với bị cáo nên không đặt ra giải quyết.

[9]. Về xử lý vật chứng: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH Mode, màu đỏ đen, BKS 17B8-346.99 Công an huyện T đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là phù hợp. Đối với 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Kamastsu KM330 và 1,2 kg dấu vết than hoá, màu đen không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu huỷ là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

[10]. Về án phí: Bị cáo là người cao tuổi và có đề nghị miễn giảm án phí, lệ phí toà án nên không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".

2. Về hình phạt: Áp dụng: điểm d Khoản 2 Điều 178; Điều 38; Điều 50; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 và Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án 06/11/2024.

Giao bị cáo cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Thái Bình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo.

Trường hợp người được hưởng án treo trên thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật này.

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu huỷ 1,2 kg dấu vết than hoá, màu đen và 01 máy cắt cỏ nhãn hiệu Kamastsu KM330.

(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận ngày 15/10/2024).

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Nguyễn Văn T3 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

*Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Tiền Hải;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Nhà tạm giữ CAH Tiền Hải;
  • - Sở tư pháp tỉnh Thái Bình;
  • - THA Dân sự, CA huyện Tiền Hải;
  • - TAND, VKSND tỉnh Thái Bình;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Vũ Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH về cố ý làm hư hỏng tài sản

  • Số bản án: 104/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý làm hư hỏng tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn T phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger