|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
Bản án số: 104/2024/HS-PT
Ngày 30-9-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền.
- - Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Duy Sơn và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- - Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phương Thao - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 104/2024/TLPT-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T do có kháng cáo của bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Khổng Văn D, sinh ngày 04/6/1991; Nơi cư trú: Thôn P, xã Y, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Khổng Văn D1, sinh năm 1962 và bà Đỗ Thị P, sinh năm 1964; có vợ là Nguyễn Thị L và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại. (Có mặt).
-
Nguyễn Quốc T, sinh ngày 01/3/1986; Nơi cư trú: Khu B, xã Y, huyện H, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 5/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Nguyễn Quang V, sinh năm 1958 và bà Đoàn Thị T1 (đã chết); có vợ là Phan Thị V1 (đã ly hôn) và 03 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại (Có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và bản án sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khổng Văn D được Công ty cổ phần T4 có địa chỉ trụ sở chính tại V, tầng B tòa nhà T, xã T, huyện T, thành phố Hà Nội tuyển dụng vào vị trí công nhân sản xuất theo Quyết định số 16122021-01/QĐ-VXHN ngày 16/12/2021. Đến ngày 01/12/2022, D được Giám đốc công ty bổ nhiệm làm ca trưởng sản xuất tại nhà máy C2 có địa chỉ tại thôn M, xã T, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc với nhiệm vụ quyền hạn được giao là: Sắp xếp phân công công việc trong ca sản xuất (nhân sự, máy móc, vật tư,...) để đảm bảo thực hiện được kế hoạch sản xuất và giao hàng; Chịu trách nhiệm về chất lượng hàng hóa do ca mình sản xuất; Chịu trách nhiệm thực hiện tốt nội quy của nhà máy, của công ty về công tác quản lý lao động, quản lý tài sản, hàng hóa và quản lý sản xuất.
Thực hiện công việc được giao, ngày 09/6/2023 D đến nhà máy C2 làm việc theo ca từ 22 giờ 00 phút ngày 09/6/2023 đến 06 giờ 00 phút ngày 10/6/2023. Ca làm việc này của D được giao nhiệm vụ sản xuất các tấm trần tôn xốp loại hai mặt tôn và loại một mặt tôn, một mặt giấy bạc, theo các yêu cầu sản xuất của bộ phận bán hàng để giao cho các đại lý trong ngày 10/6/2023. Cùng ca làm việc với D còn có các anh Lý Văn D2, anh Lầu Văn C, anh Ngô Văn C1, anh Phạm Hữu Đ đều là công nhân sản xuất của nhà máy, được D phân công nhiệm vụ bốc xếp hàng đã thành phẩm. Do là trưởng ca sản xuất, D được giao các lệnh sản xuất, trực tiếp nhập số liệu vào máy nên biết rõ trong phải sản xuất những loại hàng gì và số lượng bao nhiêu.
Trong ca làm việc, khi thực hiện nhiệm vụ được giao, D nảy sinh mục đích chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần T4. D không nói cho anh D2, anh C, anh C1 và anh Đ1 biết mục đích này của D mà khi vận hành máy sản xuất, D tự ý nhập số liệu để máy sản xuất thừa 55 tấm trần tôn xốp, để đem bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. D nhập số liệu để máy sản xuất thừa 55 tấm trần tôn gồm:
- - Loại 1: 25 tấm trần một mặt tôn, có quy cách Tôn + PU + Giấy bạc, kích thước mỗi tấm (4,25 x 0,36)m, mã sản phẩm là VXA6 1MTS;
- - Loại 2: 30 tấm trần hai mặt tôn, có quy cách Tôn + PU + Tôn, kích thước mỗi tấm (4,02 x 0,36)m, mã sản phẩm là VXA6 2MTS).
Sau khi sản xuất xong, do 55 tấm trần tôn xốp D sản xuất thừa không có trong phiếu yêu cầu sản xuất, phiếu xuất kho kiêm biên bản giao hàng của công ty nên để có thể chiếm đoạt được 55 tấm trần tôn này, D đã tự ý lấy bút dạ mực màu đen viết lên bên ngoài các bó buộc 55 tấm trần tôn này tên của đại lý H2 có địa chỉ tại Khu F, xã H, huyện H, tỉnh Phú Thọ (là đại lý có tên trong phiếu xuất kho và biên bản giao hàng trong ngày 10/6/2023). Đến khoảng 04 giờ 30 phút
ngày 10/6/2023, D chỉ đạo công nhân bốc xếp 55 tấm trần tôn nêu trên lên xe ô tô biển kiểm soát 98C- 205.62 - là xe ô tô được Công ty giao cho Nguyễn Quốc T điều khiển, có lịch trình giao hàng cho các đại lý trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tỉnh Yên Bái trong ngày 10/6/2023, trong đó có Đại lý H2 (T được tuyển dụng theo Quyết định số 20042021-01/QĐ-VXHN ngày 20/4/2021 của Giám đốc công ty cổ phần T4 với nhiệm vụ: Nhân viên lái xe, thực hiện các công việc được phân công trong ca làm việc (máy móc, vật tư, hàng hóa, tiền hàng...) để đảm bảo thực hiện được kế hoạch giao hàng).
Đến khoảng 06 giờ 00 phút ngày 10/6/2023 khi Nguyễn Quốc T đến nhà máy để điều khiển xe ô tô đi giao hàng thì D gọi T ra phía sau xe ô tô và bảo với T “Đêm qua em có chạy thừa ít hàng, anh xem có chỗ nào bán giúp em, nếu không bán được thì anh cân phế liệu cũng được, được bao nhiêu anh em mình chia nhau”. T hiểu ý của D là D đã sản xuất thừa hàng, không có trong lệnh sản xuất của công ty và bảo T đem số hàng này đi bán để tránh bị công ty phát hiện nên T đồng ý. Sau đó, D chỉ cho T biết vị trí để số hàng này ở trên chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C- 205.62 và nói cho T biết việc D đã viết tên Đại lý Hưng N lên số hàng này để tránh nhầm lẫn. Sau đó T lấy biên bản giao hàng kiêm phiếu xuất kho rồi điều khiển chiếc xe ô tô biển kiểm soát 98C- 205.62 đi từ nhà máy đến địa bàn tỉnh Phú Thọ để giao hàng. Khi đi đến đại lý T5 ở thôn C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ thì T xuống xe, đi vào bên trong đại lý gặp chị Lương Thị Thu H (là chủ đại lý, thường xuyên lấy hàng của công ty nhưng ngày 10/6/2023, đại lý T5 không đặt hàng). Tại đây T nói với chị H “Có ít hàng của ca trưởng nó chạy thừa, chị xem có lấy được không”, chị H trả lời “Đâu, có nhiều không” thì T bảo với chị H là hàng đang để trên xe. Chị H đi ra xe xem hàng và nói với T “Chỗ này sáu triệu, được thì cho xuống”, T trả lời “Vâng, em bán”. Sau đó, T bảo Nguyễn Văn A và Nguyễn Tiến M (là hai công nhân của Công ty đi cùng xe ô tô với T có nhiệm vụ bốc dỡ hàng hoá), bốc toàn bộ 55 tấm trần tôn xuống để bán cho chị H. Trong quá trình bốc hàng, anh A thấy các bó hàng ghi tên đại lý H2 nhưng lại bốc xuống cho đại lý Tuấn A1 nên có hỏi T “Sao hàng nhà Tuấn A1 lại ghi tên Hưng N” thì T trả lời “Chắc nó ghi nhầm”. Thấy vậy, anh A và anh M không ai hỏi gì nữa mà cùng nhau bốc toàn bộ 55 tấm trần tôn xuống cho đại lý T5. Sau đó, chị H bảo với T “Vài hôm nữa đi qua thì đưa tiền sau nhé”, T nói “Vâng”, rồi tiếp tục điều khiển xe ô tô đi giao hàng cho các đại lý khác. Sau khi đi giao hàng về đến nhà máy, T gặp D và nói với D “Lô hàng mày nhờ anh nay đi bán được 6.000.000đ, nhưng người ta chưa trả tiền” thì D bảo “Ok anh”. Sau đó, khoảng 3-4 ngày, T đến Đại lý Tuấn A1 thì chị H trả cho T số tiền 6.000.000đ. Số tiền này, T và D chia nhau mỗi người 3.000.000đ và đã tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi phát hiện D và T có hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần T4, ông Lê Bá T2 - Giám đốc công ty cổ phần T4 đã cho thôi việc đối với D và T,
đồng thời có đơn trình báo sự việc với Cơ quan CSĐT Công an huyện V để điều tra, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Ngay sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan CSĐT Công an huyện V đã tiến hành các hoạt động điều tra, xác minh theo quy định. Quá trình điều tra, lần lượt trong các ngày 19/9/2023 và 20/9/2023, Nguyễn Quốc T và Khổng Văn D mỗi người tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền 4.261.000đ để khắc phục hậu quả cho Công ty cổ phần T4.
Ngày 07/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra yêu cầu định giá tài sản số 674 yêu cầu Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự huyện V định giá xác định giá trị thiệt hại của 55 tấm trần tôn xốp, có đặc điểm như sau:
- - 25 tấm trần một mặt tôn, có quy cách Tôn + PU + Giấy bạc, kích thước mỗi tấm 4,25m x 0,36m, tổng chiều dài của 25 tấm là 106,25m dài.
- - 30 tấm trần hai mặt tôn, có quy cách Tôn + PU + Tôn, kích thước mỗi tấm 4,02m x 0,36m, tổng chiều dài của 30 tấm là 120,6m dài.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 85/KL-HĐĐGTTHS ngày 15/9/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V, kết luận: Tổng giá trị của 55 tấm trần tôn có đặc điểm như nêu trên là 8.522.000đ (Tám triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng chẵn).
Ngày 31/8/2023 anh Nguyễn Bá D3 - Giám đốc nhà máy C2 thuộc Công ty cổ phần T4 giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 đoạn video được trích xuất từ đầu thu camera an ninh lắp đặt tại nhà máy G lại một số hình ảnh liên quan đến vụ việc.
Ngày 07/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện V ra Quyết định trưng cầu giám định kỹ thuật số điện tử số 489, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định đối với đoạn video nêu trên.
Ngày 20/11/2023, Phòng K Công an tỉnh V có bản kết luận giám định số 3124/KL-KTHS, kết luận:
Chụp được 08 ảnh theo nội dung yêu cầu giám định. Toàn bộ ảnh chụp và thuyết minh được in vào 01 bản ảnh giám định.
Kèm theo kết luận giám định: 01 bản ảnh giám định có chữ ký của giám định viên và dấu đỏ của Phòng K - Công an tỉnh V.
Bản ảnh giám định được thuyết minh như sau:
- Ảnh 1-2: Xuất hiện một số người di chuyển qua lại trước tầm quan sát, trong đó có 01 người mặc quần áo ngắn sáng màu, trên tay cầm theo vật sáng màu dạng tờ giấy (Ký hiệu người A)
- Ảnh 3-5: Người A nhiều lần chỉ tay và cùng một số người bê, vác những vật dạng thanh dài sáng màu đặt lên thùng của xe ô tô.
- Ảnh 6-8: Xuất hiện thêm 01 chiếc xe ô tô, người A tiếp tục cầm giấy trên tay đi lại xung quanh và cùng một số người bê, vác các vật dạng thanh dài sáng màu đặt lên thùng của 02 chiếc xe ô tô.
Cơ quan điều tra đã thông báo nội dung các bản kết luận giám định, định giá tài sản nêu trên cho Khổng Văn D, Nguyễn Quốc T và Đại diện Công ty cổ phần T4 biết. Sau khi được thông báo thì tất cả đều đồng ý, không ai có ý kiến, thắc mắc gì.
Với hành vi phạm tội nêu trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 59/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T phạm tội "Tham ô tài sản".
- - Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với Khổng Văn D. Xử phạt bị cáo Khổng Văn D 02 năm 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 02 năm 03 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 26 và 28 tháng 6 năm 2024, bị cáo Nguyễn Quốc T, Khổng Văn D có đơn kháng cáo Bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T giữ nguyên kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc thực hành quyền công tố tại phiên toà phát biểu và có quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T, sửa bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc, xử phạt bị cáo Khổng Văn D từ 10 đến 12 tháng tù, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T từ 09 đến 12 tháng tù về tội Tham ô tài sản, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt các bị cáo đi thi hành án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Đơn kháng cáo của bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T làm trong thời hạn luật định và hợp lệ nên được Hội đồng xét xử xem xét theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại cấp sơ thẩm và tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung vụ án: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phúc thẩm, bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T đã thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Khổng Văn D là ca trưởng sản xuất và Nguyễn Quốc T là lái xe của Công ty cổ phần T4. Khổng Văn D được công ty giao nhiệm vụ, quyền hạn là sắp xếp, phân công công việc trong ca sản xuất (nhân sự, máy móc, vật tư,...) còn Nguyễn Quốc T là lái xe có nhiệm vụ điều khiển xe ô tô đi giao hàng cho các đại lý mua hàng của công ty. Lợi dụng nhiệm vụ quyền hạn được giao trong ca làm việc từ 22 giờ 00 phút ngày 09/6/2023 đến 06 giờ 00 phút ngày 10/6/2023 Khổng Văn D đã nảy sinh mục đích chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần T4 nên trong quá trình vận hành máy sản xuất, D đã cố tình nhập số liệu để máy sản xuất thừa 25 tấm trần một mặt tôn, có quy cách Tôn + PU + Giấy bạc, kích thước mỗi tấm 4,25m x 0,36m, mã sản phẩm là VXA6 1MTS và 30 tấm trần hai mặt tôn, có quy cách Tôn + PU + Tôn, kích thước mỗi tấm 4,02m x 0,36m, mã sản phẩm là VXA6 2MTS. Sau khi sản xuất xong, do biết chiếc xe ô tô BKS 98C-205.62 được Công ty cổ phần T4 giao cho Nguyễn Quốc T là lái xe của công ty Đ2, có lịch trình giao hàng cho các đại lý trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, tỉnh Yên Bái trong ngày 10/6/2023 nên D đã dùng bút dạ viết lên các bó trần tôn này tên của đại lý H2 ở Phú Thọ là một trong các đại lý có đơn đặt hàng phải giao. Đến khoảng 04 giờ 30 phút ngày 10/6/2023, D đã chỉ đạo công nhân bốc xếp 55 tấm trần tôn mà D sản xuất thừa lên chiếc xe ô tô BKS 98C-205.62. Đến khoảng 06 giờ ngày 10/6/2023, khi T đến nhà máy C2 để điều khiển xe ô tô đi giao hàng thì D nói với T mang 55 tấm trần tôn mà D sản xuất thêm đi bán, được bao nhiêu thì lấy tiền tiêu. T hiểu rõ số hàng này là D chiếm đoạt của Công ty nhưng vì mục đích vụ lợi, T đã lợi dụng quyền hạn của mình được Công ty cổ phần T4 giao cho để đồng ý giúp sức cho D. Sau đó, T đã điều khiển xe ô tô BKS 98C-205.62 chở 55 tấm tôn chiếm đoạt của Công ty cổ phần T4 đến bán cho chị
Lương Thị Thu H là chủ đại lý Tuấn A1 có địa chỉ tại thôn C, xã V, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ được số tiền 6.000.000 đồng. Số tiền này, T và D chia nhau mỗi người 3.000.000 đồng và đã tiêu sài cá nhân hết.
Tổng trị giá tài sản D và T chiếm đoạt theo kết luận của Hội đồng định giá là 8.522.000 đồng (Tám triệu năm trăm hai mươi hai nghìn đồng chẵn).
Với hành vi phạm tội nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng pháp luật, xét xử bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T về tội “Tham ô tài sản” theo khoản 1 Điều 353 của Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét kháng cáo của bị cáo Khổng Văn D, Nguyễn Quốc T xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Các bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T tuổi đời còn trẻ, có sức khỏe nhưng không chịu lao động mà muốn kiếm tiền bằng con đường bất hợp pháp, các bị cáo đã lợi dụng vị trí, công việc mà mình được công ty giao quản lý để chiếm đoạt tài sản của Công ty. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công ty, doanh nghiệp được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo phạm tội tham ô tài sản quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật Hình sự, có mức cao nhất của khung hình phạt là 07 năm tù thuộc trường hợp phạm tội nghiêm trọng. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ tính chất của vụ án, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và vai trò, mục đích, động cơ phạm tội của các bị cáo từ đó áp dụng pháp luật xử phạt Khổng Văn D và bị cáo Nguyễn Quốc T mức án tù có thời hạn là đúng quy định của pháp luật. Kháng cáo xin hưởng án treo của các bị cáo không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Trong vụ án này, tuy các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng xét thấy hành vi phạm tội của các bị cáo là nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến môi trường đầu tư, kinh doanh của công ty, doanh nghiệp. Đặc biệt, thời gian gần đây trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc hành vi tham nhũng xảy ra ở các công ty, doanh nghiệp có dấu hiệu tăng. Hậu quả của tội phạm làm tăng chi phí và giảm đáng kể lợi nhuận của công ty, doanh nghiệp, làm hình thành những thói quen kinh doanh thiếu lành mạnh ảnh hưởng đến môi trường đầu tư phát triển của các doanh nghiệp tại Việt Nam. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn một thời gian mới có tác dụng giáo dục các bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, có ý thức tuân theo pháp luật. Đồng thời góp phần làm lành mạnh hóa môi trường hoạt động, kinh doanh của các công ty, doanh nghiệp trên địa bàn huyện V nói riêng và trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nói chung.
Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Khổng Văn D có vai trò đầu vụ, là người khởi xướng, rủ rê Nguyễn Quốc T thực hiện hành vi phạm tội, đồng
thời là người thực hành một cách tích cực nên đóng vai trò chính trong vụ án. Bị cáo T là đồng phạm tham gia với vai trò là người giúp sức cho D trong việc mang tài sản chiếm đoạt đi tiêu thụ rồi lấy tiền chia nhau. Do vậy, bị cáo D có vai trò chính vừa là người rủ rê, vừa là người thực hiện tích cực, bị cáo T có vai trò là đồng phạm giúp sức.
Tại cấp phúc thẩm, bị cáo T giao nộp tài liệu chứng cứ mới là đơn xin xác nhận nội dung bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, đã ly hôn một mình nuôi 3 con nhỏ, bị cáo thuộc hộ nghèo, ngoài ra bị cáo có ông nội được tặng huân chương kháng chiến hạng Ba; bị cáo D có ông nội là liệt sỹ chống Mỹ nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Do vậy, có căn cứ để chấp nhận một phần kháng cáo của các bị cáo D, T, giảm một phần hình phạt để các bị cáo yên tâm cải tạo, sớm trở về với gia đình và xã hội. Tuy nhiên, đánh giá hành vi, vai trò của từng bị cáo hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo D có vai trò chính trong vụ án, bị cáo T có vai trò là đồng phạm giúp sức nên hình phạt đối với bị cáo D phải cao hơn hình phạt đối với bị cáo T, bị cáo T được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trong đó có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đủ điều kiện áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ sức răn đe, giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận một phần nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 59/2024/HS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về hình phạt.
Tuyên bố các bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T phạm tội "Tham ô tài sản”.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Khổng Văn D 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- - Áp dụng khoản 1 Điều 353; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, 38, 54 và 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 01 (Một) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Khổng Văn D, Nguyễn Quốc T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Thu Hiền |
Bản án số 104/2024/HS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về tham ô tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 104/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tham ô tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: các bị cáo Khổng Văn D và Nguyễn Quốc T phạm tội "Tham ô tài sản”.
