|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 27-9-2024
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Thảo
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Bà Nguyễn Thị Thắm;
- - Bà Nguyễn Kim Lý.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Quỳnh - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 339/2024/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 220/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 10 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Võ Thị Tuyết N, sinh năm 2001; hộ khẩu thường trú: Số G, đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương; địa chỉ liên hệ: số B, đường G, khu phố T, phường Đ, thành phố D, tỉnh Bình Dương;
- - Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1988; hộ khẩu thường trú: Số nhà F, tổ A, khu phố E, phường M, thành phố B, tỉnh Bình Dương; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B;
Bà N và ông T đều có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2024, bản tự khai đề ngày 07/5/2024, 18/6/2024 và ngày 22/8/2024, nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết N trình bày:
Bà N và ông T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang vào ngày 18/11/2019. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện.
Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khi về sống chung với nhau một thời gian thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mẫu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau hay gây gỗ dẫn đến cãi vã nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện nay vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng và đã sống ly thân. Hiện nay ông T phạm tội và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương.
Nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trở nên trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà N yêu cầu giải quyết cho bà được ly hôn với ông T.
Về con chung: Bà N và ông T có 01 con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 03/3/2019. Hiện nay cháu T1 đang sống với bà N tại địa chỉ số G, đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung và nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai và biên bản lấy lời khai cùng ngày 22/8/2024, ông T trình bày:
Ông và bà N là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Hôn nhân giữa ông và bà N là hoàn toàn tự nguyện, việc kết hôn đúng pháp luật.
Vợ chồng sau khi cưới chung sống hạnh phúc đến khi ông T gây ra hành vi phạm tội cho Nguyễn Hữu T2 và bị Công an thành phố B, tỉnh Bình Dương khởi tố về hành vi cố ý gây thương tích. Nay ông T đang bị tam giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B từ ngày 10/7/2024 cho đến nay để điều tra về tội cố ý gây thương tích. Trong quá trình chung sống, vợ chồng hay cãi vả, bất đồng quan điểm, suy nghĩ.
Nay ông T nhận thấy mâu thuẫn hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên đồng ý ly hôn với bà N.
Về con chung: Ông T khai ông T và bà N có 01 (một) con chung tên là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 03/3/2019. Trước yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu T1 của bà N, ông T đồng ý giao con chung cho bà N nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên ông T không có ý kiến.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại phiên tòa:
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát phát biểu ý kiến:
- + Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Nguyên đơn và bị đơn đã thực hiện đúng và đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- + Về nội dung vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết N và bị đơn ông Nguyễn Văn T có đơn đề nghị xét xử, vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
[2] Về nội dung:
Bà N và ông T là vợ chồng, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện. Như vậy, hôn nhân giữa bà N và ông T là hôn nhân hợp pháp.
Theo bà N trình bày: Trong quá trình chung sống vợ chồng sống hạnh phúc. Tuy nhiên, khi về sống chung với nhau một thời gian thì giữa vợ chồng phát sinh nhiều mẫu thuẫn. Nguyên nhân phát sinh nhiều mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính tình không hợp nhau hay gây gỗ dẫn đến cãi vã nhau, vợ chồng không có tiếng nói chung. Hiện vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó bà N yêu cầu được ly hôn với ông T.
Mặt khác, qua tài liệu chứng cứ do Toà án thu thập được ông T trình bày: Giữa ông và bà N có bất đồng quan điểm sống dẫn đến thường xuyên cãi nhau. Nay mâu thuẫn vợ chồng đến mức trầm trọng, không thể sống chung nữa nên ông đồng ý ly hôn với bà N.
Xét thấy hai bên đương sự thừa nhận mâu thuẫn hôn nhân đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, mâu thuẫn đã xảy ra trong một thời gian dài nhưng hai bên vẫn không hàn gắn được. Do đó, xét thấy cần chấp nhận cho bà N ly hôn với ông T để sớm ổn định cuộc sống giữa hai bên theo quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Bà N và ông T khai có 01 (một) con chung tên là Nguyễn Minh T1, sinh ngày 03/3/2019. Bà N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Xét thấy, tại bản tự khai đề ngày 07/5/2024 của bà N thì hiện nay cháu T1 đang sinh sống tại địa chỉ số G, đường D, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương với bà N và đồng thời ông T cũng đồng ý giao con cho bà N được chăm sóc, nuôi dưỡng nên Hội đồng xét xử xét thấy có cơ sở chấp nhận yêu cầu trên.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà N không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Từ những phân tích như trên, xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là hoàn toàn có căn cứ và phù hợp nên được chấp nhận.
[3] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Cát, tỉnh Bình Dương là phù hợp.
[4] Về án phí: Bà Võ Thị Tuyết N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83, 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228, Điều 147 và Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Võ Thị Tuyết N đối với bị đơn ông Nguyễn Văn T về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
- - Về hôn nhân: Bà Võ Thị Tuyết N được ly hôn với ông Nguyễn Văn T.
- - Về con chung: Giao con chung là cháu Nguyễn Minh T1, sinh ngày 03/3/2019 cho bà Võ Thị Tuyết N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- - Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Võ Thị Tuyết N không yêu cầu ông Nguyễn Văn T cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Vì quyền lợi hợp pháp của con. Tòa án có thể thay đổi người nuôi con, giải quyết việc cấp dưỡng cho con theo quy định của pháp luật.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp nên không yêu cầu giải quyết.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Bà Võ Thị Tuyết N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000935 ngày 04/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Bến Cát (nay là thành phố B), tỉnh Bình Dương. Bà N đã nộp xong tiền án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đậu Thị Thảo |
Bản án số 104/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 104/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN CÁT, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: LY HON, TRANH CHAP CON CHUNG
