1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 104/2024/HS-ST
Ngày 27 tháng 9 năm 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triều.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông Lê Văn Hoàng - Cán bộ hưu trí;
- 2/ Ông Trần Quang Thái - Phó Hiệu trưởng Trường THCS Định Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Khuyên - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 9 và ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Văn P, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S (đã chết) và bà Phan Thị T, sinh năm 1937; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; vợ là Nguyễn Kim L, sinh năm 1991; con có 04 người: lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2020.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Hà Hữu T1, sinh ngày 12/12/1992. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Tấn T2, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1956; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
2
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
3/ Hà Tấn T3, sinh ngày 23/02/1980. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Tấn T2, sinh năm 1950 và bà Phạm Thị D, sinh năm 1956; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; Vợ là Phan Thị P1 sinh năm 1985; Con có 02 người, lớn sinh năm 2005, nhỏ sinh năm 2015.
Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
4/ Hà Thanh T4, sinh ngày 01/01/1983. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Hữu T5, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; Anh, chị, em: 05 người, bị cáo là người thứ ba; bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Ngày 29/12/2023, bị Công an xã V xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã thực hiện xong việc nộp phạt.
Tiền án: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/3/2024 đến ngày 26/3/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
5/ Hà Văn B, sinh ngày 07/8/1998. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Văn H, sinh năm 1977 và bà Lý Kim T6, sinh năm 1976; anh chị em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 24/6/2024 đến ngày 03/7/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
6/ Hà Tấn N1, sinh ngày 06/11/2005. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hà Tấn T3, sinh năm 1980 và bà Phan Thị P1, sinh năm 1985; Anh, chị, em có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
3
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 đến ngày 18/7/2024 tạm giam cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
7/ Trần Hữu N2, sinh ngày 26/12/2003. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn P2, sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ hai; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
8/ Trần Văn T7, sinh ngày 01/01/1994. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Thanh B1, sinh năm 1974 và bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1975; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo chưa có con. Ngày 26/5/2024, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện C, tỉnh An Giang khởi tố bị can về tội “Đánh bạc”.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
9/ Nguyễn Trần Trọng P3, sinh ngày 12/5/2007. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; quốc tịch: Việt Nam; con Nguyễn Hồ H1, sinh năm 1981 và bà Trần Thị B2, sinh năm 1982; anh em ruột có 02 người, bị cáo là người thứ nhất; bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 09/8/2024 cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3: Chị Trần Thị B2, sinh năm 1982. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3: Ông Phan Văn H2 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm Trợ giúp Pháp lý Nhà nước tỉnh A. Địa chỉ: số H, đường L, phường M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Bị hại:
1/ Nguyễn Văn P, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (là bị cáo trong vụ án).
4
2/ Hà Hữu T1, sinh ngày 12/12/1992. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (là bị cáo trong vụ án).
3/ Hà Tấn T3, sinh ngày 23/02/1980. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (là bị cáo trong vụ án).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Ông Dương Văn T8, sinh năm 1950. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
2/ Chị Phan Thị P1, sinh năm 1985. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
3/ Ông Trần Văn T9, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
4/ Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
5/ Anh Hồ Văn N4, sinh ngày 20/7/1990. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
6/ Phạm Hoàng T10, sinh ngày 09/5/2008. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng T10: Bà Nguyễn Tuyết H3, sinh năm 1954 và bà Phạm Thị P4, sinh năm 1977. Cùng cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (bà H3 có mặt, bà P4 vắng mặt).
7/ Võ Phúc T11, sinh ngày 21/6/2008. Nơi cư trú: ấp B, xã M, thành phố L, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Võ Phúc T11: Ông Trần Văn H4, sinh ngày 09/02/1951. Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
8/ Ông Trần Văn H4, sinh ngày 09/02/1951. Nơi cư trú: ấp Đ, xã V, huyện C, tỉnh An Giang (có mặt).
9/ Nguyễn Hoàng K, sinh ngày 31/10/2008. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Hoàng K: Bà Trần Thị L2, sinh năm 1965. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
10/ Phạm Minh T12, sinh ngày 01/01/2007. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Minh T12: Chị Nguyễn Thị P5, sinh ngày 01/01/1981. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
5
11/ Chị Nguyễn Thị P5, sinh ngày 01/01/1981. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
12/ Lê Chí T13, sinh ngày 02/03/2007. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Chí T13: Ông Lê Văn P6, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
12/ Ông Lê Văn P6, sinh năm 1979. Nơi cư trú: ấp V, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
13/ Anh Hà Văn Bình E, sinh ngày 20/8/2000. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (vắng mặt).
14/ Chị Nguyễn Kim L, sinh ngày 01/01/1991. Nơi cư trú: ấp T, xã V, huyện T, tỉnh An Giang (có mặt).
Người làm chứng:
- 1/ Ông Nguyễn Hữu T14 (vắng mặt).
- 2/ Ông Hà Tấn T2 (vắng mặt).
- 3/ Ông Phạm Thành D1 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 16/3/2024, Dương Văn T8 uống rượu cùng cháu rể Nguyễn Văn P tại chòi lá cạnh nhà P thuộc ấp T, xã V, huyện T thì Hà Tấn T3 điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số) đến tìm vợ của P là Nguyễn Kim L yêu cầu trả nợ số tiền 3.000.000 đồng nên P bảo L không có ở nhà và không biết phần tiền nợ này dẫn đến cả hai cự cãi, T3 dùng tay đánh trúng sau gáy của P 01 cái, bị đánh P dùng tay đánh trả trúng vào cạnh hàm làm T3 ngã xuống lề đường được Thiệu can ngăn. T3 lấy điện thoại di động gọi cho Hà Tấn T2, Hà Hữu T1 (cha, em ruột của T3) cho biết việc T3 bị P đánh. Nghe xong, vì muốn bênh vực T3 nên T1 rủ thêm Hà Thanh T4, Hà Văn Bình E, Hà Văn B đến nhà tìm P hỏi rõ sự việc. Còn P biết T3 gọi thêm người nên vào khu vực bếp lấy cây dao bằng kim loại lưỡi sắc bén, dài khoảng 50cm chạy ra đường, thấy T1 điều khiển xe mô tô chở T4; B điều khiển xe mô tô (không xác định được biển số) chở Bình E, vừa đến T3 nhặt khúc gỗ dài 174cm xông đến đánh P, nhưng không trúng, P cầm dao bằng tay phải chém nhiều nhát trúng vào vùng lưng, hông, tay, đầu làm T3 ngã xuống đường vỡ mũ bảo hiểm đang đội; Thời, B mỗi người nhặt 01 khúc gỗ và T4 nhặt 02 viên gạch ống ném P, nhưng không trúng. Tiếp tục, T1 nhặt khúc gỗ của T3 làm rớt, cầm hai tay đánh từ trên xuống, P giơ tay lên đỡ trúng bàn tay phải của P, riêng T1 trong lúc đánh nhau bị vấp chân ngã xuống đường bị P chém nhiều nhát trúng vào cánh tay, hố chậu phải. Thấy T1 bị chém, B nhặt khúc gỗ dài 145cm, T4 cầm khúc gỗ dài khoảng 1,5m đánh
6
giải vây thì P bỏ chạy vào nhà T8 lẫn trốn. Riêng Bình E không tham đánh nhau, khi thấy T3, T1 bị thương nên cùng T4 điều khiển xe chở cả hai đến Bệnh viện Đ cấp cứu, điều trị.
Cùng lúc này, Hà Tấn N1 đang uống nước cùng Nguyễn Trần Trọng P3, Lê Chí T13, Nguyễn Hoàng K, Trần Văn T7, Phạm Minh T12, Võ Phúc T11 cách hiện trường đánh nhau khoảng 01km, hay tin T3, T1 bị P chém gây thương tích nên N1 rủ cả nhóm tìm P đánh trả thù thì mọi người đồng ý. Thực hiện ý định, P3 điều khiển xe chở N1 về nhà N1 lấy dao tự chế bằng kim loại dài khoảng 40cm; T10 điều khiển xe máy biển số 67B1-324.67 chở N2 đến tiệm sửa xe tại xã V, huyện C, tỉnh An Giang lấy cây dao tự chế dài khoảng 40cm rồi cùng Chí T13 điều khiển xe mô tô biển số 67N1-285.42 chở T7; T12 điều khiển xe máy biển số 67AL-060.78 chở K; Võ Phúc T11 điều khiển xe máy biển số 67AA-007.70 đến hiện trường, không tìm thấy P, N1 lớn tiếng chửi, thách thức đánh nhau, cầm dao tự chế chém vào vách nhà của P và chém gây hư hỏng 12 khung cửa gỗ nhà của T8; còn T7 nhặt khúc cây gỗ dài 119cm, N2 cầm dao tự chế và Chí T13, Phúc T11, K, T12 không cầm hung khí đứng bên ngoài nhìn. Xong, cả nhóm điều khiển xe bỏ về nhà.
Ngày 17/3/2024, Ủy ban nhân dân xã V ban hành Công văn số 01, đề nghị xem xét xử lý nghiêm các đối tượng tham gia đánh nhau gây hoang mang dư luận, bức xúc trong quần chúng nhân dân tại địa phương xảy ra ngày 16/3/2024.
Các ngày 17/3, 24/6, 12/7/2024, P, T4, B, N1 đến Công an xã V đầu thú. Ngày 25/3, 02/7, 18/7, 06/8/2024, P, T1, T4, B, N1, T3, N2, T7, P3 bị khởi tố, điều tra.
Vật chứng, tài sản thu giữ gồm: Dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước (57 x 7)cm; đoạn gỗ kích thước (71 x 7)cm; đoạn gỗ một đầu sơn đen, kích thước (174 x 4 x 3)cm; 02 đoạn gỗ tròn, kích thước (145 x 22)cm và (119 x 18)cm bị cháy đen một phần; hai viên gạch bị vỡ (loại gạch ống) màu cam, kích thước (16 x 7 x 5,8)cm và (11 x 6 x 5)cm; cây xẻng lưỡi bằng kim loại, kích thước (27 x 15)cm, cán bằng gỗ dài 78cm; các xe mô tô biển số 67N1-285.42, 67B1-324.67, 67AL-060.78, 67AA-007.70.
Tại Kết luận định giá tài sản số 39 ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, kết luận: 12 cây gỗ loại cây dầu, đường kính tròn, mỗi cây gỗ dài 1.4m, đường kính 2.5cm bị gãy hư hỏng hoàn toàn trị giá 1.080.000 đồng.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 206 ngày 17/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận thương tích Hà Hữu T1, sinh năm 1992. Các kết quả chính:
Sây sát da rải rát vùng vai - thượng đòn phải; sây sát da rải rác cổ bàn chân phải và ngón I, II, tỷ lệ 00% do vật tày gây nên.
7
Vết thương mặt trước ngoài 1/3 giữa cánh tay phải, nằm xiên, kích thước (13.5 x 0.2) cm, bờ sắc, hai góc nhọn, còn chỉ khâu tỷ lệ 02%. Gây rạn xương 1/3 giữa cánh tay phải tỷ lệ 04%. Tỷ lệ 04%, do vật sắc gây nên.
Vết thương vùng hố chậu phải, đứng dọc, kích thước (2.3 x 0.5)cm, bờ tương đối sắc, không khâu. Tỷ lệ 01%, do vật có cạnh sắc gây nên.
Sây sát da dạng mảng mặt trước ngoài gối phải (10 x 04) cm, tỷ lệ 01%, do vật tày gây nên. Tỷ lệ tổn thương do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 06%.
Công văn số 44 ngày 09/9/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A xác định: Vết thương vùng hố chậu phải, đứng dọc, kích thước (2.3 x 0.5) cm, bờ tương đối sắc, không khâu. Do vật có cạnh sắc gây nên, có khả năng là do dao gây ra.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 207 ngày 17/3/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận thương tích Hà Tấn T3, sinh năm 1980. Các kết quả chính:
Vết thương vùng trán - đính lệch phải, đứng dọc, kích thước (0.7 x 0.1) cm, bờ sắc, hai góc nhọn, còn chỉ khâu; sây sát da mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay phải, nằm ngang, kích thước (4.5 x 0.2) cm, bờ sắc, hai góc nhọn;
Vết thương vùng hông trái dạng thẳng, kích thước (0.6 x 0.1) cm, bờ sắc, hai góc nhọn; sây sát da dạng thẳng vùng lưng phải, kích thước (11 x 0.2) cm. Tỷ lệ tổn thương do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 12%.
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống (bổ sung) số 207BS ngày 13/6/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, kết luận thương tích Hà Tấn T3, sinh năm 1980. Các kết quả chính:
Sẹo vùng trán - đính lệch phải, đứng dọc, kích thước (0.7 x 0.2) cm, là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%. Gây nứt sọ trán đính phải, điều trị nội khoa tỷ lệ 11%. Tỷ lệ 12% do vật sắc gây nên. (Tỷ lệ này đã cho tại bản kết luận số 207 ngày 17/3/2024);
Sây sát da mặt ngoài 1/3 dưới cánh tay phải để lại sẹo, kích thước (0.3 x 0.2) cm là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ 01%, do vật sắc gây nên;
Sây sát vùng hông trái, kích thước (05 x 0.2) cm, là sẹo có kích thước nhỏ tỷ lệ 01%, do vật sắc gây nên;
Sây sát da dạng thẳng vùng lưng phải, nằm xiên, để lại biến đổi sắc tố, kích thước (9.5 x 0.3) cm, tỷ lệ 01%, do vật sắc gây nên.
Xác định bổ sung tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên là 03%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể tại bản kết luận số 207 ngày 17/3/2024 là 12%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tất cả thương tích gây nên (áp dụng theo phương pháp cộng lùi) là 15%.
8
Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 337 ngày 10/5/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, ghi nhận thương tích của Nguyễn Văn P sinh năm 1985, kết luận: Các kết quả chính:
Sây sát da dạng mảng đuôi mày phải đến thái dương phải hiện tại không để lại thương tích; phù nề thái dương trái hiện tại không để lại thương tích;
Sẹo mặt sau 1/3 dưới cẳng tay phải, kích thước (1.6 x 0.2)cm là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%; sẹo mặt lưng đốt 1 ngón II bàn tay phải, nằm xiên, kích thước (2.3 x 0.2)cm là sẹo có kích thước nhỏ, tỷ lệ 01%;
Sẹo mặt lưng bàn tay phải, phía ngón V bàn tay phải, nằm ngang, kích thước (1.5 x 0.1)cm, gây gãy xương đốt bàn ngón V bàn tay phải, điều trị bảo tồn, hiện tại gây cứng khớp bàn - ngón, ngón V bàn tay phải, tỷ lệ 10%. Tỷ lệ tổn thương do tất cả thương tích gây nên hiện tại là 12%, do vật tày có cạnh gây nên.
Tại Cáo trạng số 88/CT-VKSTS ngày 09/9/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố Nguyễn Văn P, Hà Hữu T1 về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự; Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7 và Nguyễn Trần Trọng P3 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 của Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, các bị cáo Nguyễn Văn P, Hà Hữu T1, Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7 và Nguyễn Trần Trọng P3 đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu.
Tại phiên tòa, tất cả các bị cáo vẫn khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Bị hại Nguyễn Văn P, H, Hà Tấn T3 trình bày như nội dung vụ án đã nêu, riêng phần bồi thường dân sự, P, T1 không yêu cầu bồi thường.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng T10, sinh ngày 09/5/2008, Phạm Thị P4 (mẹ của T10), Võ Phúc T11 sinh ngày 21/6/2008, Trần Văn H4 (ông ngoại của Phúc T11), Nguyễn Hoàng Khánh sinh ngày 31/10/2008, Trần Thị L2 (bà ngoại của K), Phạm Minh T12 sinh ngày 01/01/2007, Nguyễn Thị P5 (mẹ của T12), Lê Chí T13 sinh ngày 02/3/2007, Lê Văn P6 (cha của T13), Hà Văn Bình E trình bày như nội dung vụ án đã nêu.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Kim L, những người làm chứng Nguyễn Hữu T14, Hà Tấn T2, Phạm Thành D1, người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan Dương Văn T8, Phan Thị P1 (vợ của T3) trình bày như nội dung vụ án đã nêu. P1 đã bồi thường chi phí sửa chữa khung cửa cho T8 500.000 đồng nên T8 không yêu cầu bồi thường thêm.
Người có quyền lợi nghĩa vụ, liên quan Lê Văn P6 (cha của Lê Chí T13),
9
Nguyễn Thị P5 (mẹ của Phạm Minh T12), Trần Văn H4 (ông ngoại của Võ Phúc T11); Trần Văn T9, Nguyễn Thị L1 (chú, cô của bị cáo N2) xác nhận: việc Chí T13, Minh T12, Phúc T11 và bị cáo N2 sử dụng xe làm phương tiện đi đánh nhau các ông, bà không hay biết, xin nhận lại xe.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo giữ nguyên truy tố như cáo trạng. Căn cứ vào tính chất của vụ án, hành vi phạm tội của các bị cáo, xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Đề nghị xử phạt bị cáo Hà Hữu T1 từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hà Tấn T3 từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm 06 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo Hà Thanh T4 từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo Hà Văn B từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo Trần Hữu N2 từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”, xử phạt bị cáo Trần Văn T7 từ 02 năm đến 03 năm tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Hà Tấn N1 từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm 06 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 91; Điều 98; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 từ 09 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Gây rối trật tự công cộng”. Hình phạt bổ sung: Không. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu nên không đề cập xem xét. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị: Tịch thu tiêu hủy vật chứng các bị cáo sử dụng để phạm tội gồm: Dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước (57 x 7)cm; đoạn gỗ (4 mặt phẳng), kích thước (71 x 7)cm một đầu dẹp, kích thước (7 x 0,26)cm; đoạn gỗ (4 mặt phẳng) một đầu sơn đen, kích thước (174 x 4 x 3)cm; đoạn gỗ tròn, kích thước (145 x 22)cm và (119 x 18)cm bị cháy đen một phần; viên gạch bị vỡ (loại gạch ống) màu cam, kích thước (16 x 7 x 5,8)cm và (11 x 6 x 5)cm; cây xẻng lưỡi bằng kim loại, kích thước (27 x 15)cm, cán bằng gỗ dài 78cm. Trả lại cho Nguyễn Thị P5 xe mô tô biển số 67AL-060.78, nhãn hiệu DAELIM, màu xanh, số máy: 139FMBBL1S004940, số khung: CA004940; Trần Văn Hiệp xe mô tô biển số 67AA-007.70, nhãn hiệu Fusin, màu xanh trắng, số máy: P39FMB860482, số khung: BD860482; Trần Văn T9 xe mô tô biển số 67B1- 324.67, nhãn hiệu Honda, màu trắng đen, số máy: HC12E3419560, số khung: 1203BY619421; Lê Văn P6 xe môtô biển số 67N1-285.42, nhãn hiệu Yamaha, màu đen, xám, số máy: E3T6E099761, số khung: 1710GY065917 do không liên quan đến hành vi phạm tội của các bị cáo.
10
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 thống nhất với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội danh và điều luật đã viện dẫn. Do bị cáo khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và hiện đang còn đi học nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo để tiếp tục đi học.
Bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 nhất trí với bản luận cứ bào chữa nêu trên của người bào chữa; đồng thời không bào chữa bổ sung gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Các bị cáo còn lại nhất trí với bản luận tội nêu trên của đại diện Viện Kiểm sát, không có ý kiến tranh luận và bào chữa gì khác. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa; bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Hà Văn Bình E, đại diện hợp pháp người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phạm Hoàng T10 và tất cả những người làm chứng đều vắng mặt không rõ lý do, mặc dù Tòa án đã tống đạt giấy triệu tập hợp lệ. Xét thấy sau khi vụ án xảy ra, những người này đã có lời khai trong quá trình điều tra, khi cần thiết Hội đồng xét xử sẽ công bố lời khai của họ trước tòa. Căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Văn P, Hà Hữu T1, Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7, Nguyễn Trần Trọng P3 đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với nhau, phù hợp lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:
11
Ngày 16/3/2024, Nguyễn Văn P có hành vi dùng dao bằng kim loại dài 50cm là hung khí nguy hiểm chém Hà Tấn T3 gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%, chém Hà Hữu T1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 05%. Hà Hữu T1 có hành vi sử dụng khúc gỗ dài 174cm là hung khí nguy hiểm đánh Nguyễn Văn P gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%.
Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7, Nguyễn Trần Trọng P3 sử dụng khúc gỗ, gạch ném đuổi đánh P, dùng dao tự chế chém vào khung cửa gỗ nhà của T8 gây thiệt hại 1.080.000 đồng, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội, tại ấp T, xã V, huyện T.
Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Văn P, Hà Hữu T1 đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 06 năm; Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7, Nguyễn Trần Trọng P3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự năm 2015 có khung hình phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của công dân, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ và gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an ninh, trật tự an toàn xã hội tại địa phương, làm cho quần chúng nhân dân lên án và bất bình.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội. Hội đồng xét xử xét thấy:
Các bị cáo trong vụ án là những người có đầy đủ khả năng nhận thức được việc làm đúng, sai của mình, nhưng do xem thường pháp luật các bị cáo vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Đây là vụ án có nhiều bị cáo, thực hiện nhiều tội phạm, mỗi bị cáo đều thể hiện hành vi, vai trò khác nhau trong quá trình thực hiện tội phạm, nên cần phải phân hóa tính chất, mức độ phạm tội của từng bị cáo để quyết định hình phạt cho phù hợp.
Trước hết đối với tội cố ý gây thương tích, bị cáo Nguyễn Văn P và Hà Hữu T1 là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo nhận thức được hành vi sử dụng dao và khúc gỗ là hung khí nguy hiểm đánh vào người khác sẽ ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe, do xem thường pháp luật các bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Nguyên nhân dẫn đến vụ án xuất phát từ mâu thuẫn nhỏ, bị cáo T3 đòi tiền bị cáo P còn nợ không được, P và T3 cự cãi đánh nhau; sau đó T3 rủ thêm T1, T4, B, N1, N2, T7, P3 tìm P đánh để giải quyết mâu thuẫn. Hậu quả, P sử dụng dao chém gây thương tích cho T3 với tỷ lệ 15%, Thời tỷ lệ 05%; bị cáo T1 sử dụng khúc gỗ đánh gây thương tích cho P với tỷ lệ 12%. Do đó, cần có mức hình phạt nghiêm khắc, phù hợp với hành vi phạm tội của từng bị cáo đã gây ra.
12
Đối với tội gây rối trật tự công cộng, các bị cáo T4, B, N1, T3, N2, T7, P3 đồng phạm với vai trò là những người trực tiếp thực hiện tội phạm, sử dụng khúc gỗ, gạch ném đuổi đánh P, dùng dao tự chế chém vào khung cửa gỗ nhà của T8 gây thiệt hại 1.080.000 đồng. Trong đó, vai trò của bị cáo T3 là người khởi xướng rủ rê T4, B tìm P đánh nhau, cũng chính bị cáo là người chủ động cầm khúc gỗ đuổi đánh P, tạo động lực thúc đẩy bị cáo T4, B thực hiện tội phạm bằng việc nhặt gạch, khúc gỗ đuổi đánh P. Do đó, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội đã gây ra, trong đó mức án áp dụng đối với bị cáo T3 phải cao hơn so với bị cáo T4, B.
Đối với các bị cáo N1, N2, T7, P3 khi hay tin T3 bị P đánh gây thương tích, lẽ ra đến hiện trường nắm rõ sự việc và lựa lời khuyên can hoặc trình báo cơ quan chức năng xem xét xử lý P; các bị cáo không làm được điều này lại đứng ra bênh vực, sử dụng vũ lực để giải quyết mâu thuẫn, cụ thể các bị cáo đã chủ động chuẩn bị hung khí để đánh nhau với P, trong đó bị cáo N1 rủ rê bị cáo N2, T7, P3 (chưa đủ 18 tuổi) đi đánh nhau, chính bị cáo N1 cầm dao tự chế, lớn tiếng chửi, chém gây hư hỏng các khung cửa; riêng bị cáo T7 cầm khúc gỗ, N2 cầm dao tự chế và P3 đứng tại hiện trường, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Do bị cáo N1 là người chủ mưu, phạm tội tích cực nhất và có tình tiết tăng nặng xúi giục người chưa thành niên phạm tội nên mức án áp dụng đối với bị cáo phải cao hơn so với các bị cáo còn lại.
Đối với bị cáo P3, thời điểm phạm tội bị cáo được 16 năm 10 tháng 04 ngày tuổi, bị cáo phạm tội lần đầu, đồng phạm với vai trò giúp sức và gây thiệt hại không lớn, nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, ngoài lần phạm tội này bị cáo chưa từng vi phạm pháp luật, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng; theo xác nhận của Ban giám hiệu Trường trung học phổ thông V, huyện T, bị cáo là học sinh lớp 11A8 năm học 2023-2024, có hạnh kiểm tốt, học lực khá, đủ điều kiện học lớp 12. Do đó, để tạo điều kiện cho bị cáo được tiếp tục đi học, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo được hưởng án treo cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
[5] Đối với Hà Tấn N1 có hành vi sử dụng dao tự chế chém làm hư hỏng các khung cửa, tổng trị giá 1.080.000 đồng là vi phạm pháp luật nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Đối với Phạm Hoàng T10 sinh ngày 09/5/2008, Võ Phúc T11 sinh ngày 21/6/2008, Nguyễn Hoàng Khánh sinh ngày 31/10/2008, thời điểm phạm tội chưa đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và Phạm Minh T12, Hà Văn Bình E, Lê Chí T13 đến hiện trường nhưng không tham gia đánh nhau, gây rối trật tự công cộng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T không xem xét khởi tố về tội “Gây rối trật tự công cộng” là có căn cứ. Ngày 13/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra có công văn đề nghị Công an xã V lập hồ sơ xử lý vi phạm hành chính đối với T10, Phúc T11, K, T12, B, C.
13
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Hà Tấn N1 xúi giục người dưới 18 tuổi phạm tội nên thuộc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm o khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Nhân thân các bị cáo không có tiền án, tiền sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; các bị cáo P, T4, B, N1 sau khi phạm tội ra đầu thú; các bị cáo phạm tội lần đầu, nhất thời phạm tội; bị cáo P, T3, T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Do các bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét.
[7] Về xử lý vật chứng: Đối với các xe mô tô biển số 67N1-285.42, 67AL-060.78, 67AA-007.70, 67B1-324.67. Xét thấy, Lê Chí T13, Phạm Minh T12, Võ Phúc T11 và bị cáo Trần Hữu N2 sử dụng xe trên làm phương tiện tham gia gây rối trật tự công cộng nhưng ông P6, bà P5, ông H4, ông T9 và bà L1 không biết nên trả lại cho ông P6, bà P5, ông H4, ông T9 và bà L1. Đối với các vật chứng có liên quan vụ án nhưng không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[8] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P, Hà Hữu T1 phạm tội “Cố ý gây thương tích”; bị cáo Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7, Nguyễn Trần Trọng P3 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/3/2024.
Xử phạt bị cáo Hà Hữu T1 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Hà Tấn T3 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2024.
Xử phạt bị cáo Hà Thanh T4 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/3/2024.
Xử phạt bị cáo Hà Văn B 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/6/2024.
14
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm o khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Hà Tấn N1 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 12/7/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Trần Hữu N2 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2024.
Xử phạt bị cáo Trần Văn T7 02 (hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 09/8/2024.
Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 54, Điều 91, Điều 98, Điều 101, Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 01 (một) năm tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm kể từ ngày tuyên án (ngày 27/9/2024).
Giao bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện T, tỉnh An Giang để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Căn cứ khoản 4 Điều 328 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bố trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Nguyễn Trần Trọng P3 nếu bị cáo không bị tạm giam về một tội phạm khác.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Tuyên bố tịch thu tiêu hủy: 01 (một) dao tự chế cán bằng gỗ, lưỡi bằng kim loại màu trắng, kích thước (57x7)cm; 01 (một) đoạn gỗ (4 mặt phẳng), kích thước (71x7)cm một đầu dẹp, kích thước (7x0,26)cm; 01 (một) đoạn gỗ (4 mặt phẳng) một đầu sơn đen, kích thước (174x4x3)cm; 02 (hai) đoạn gỗ tròn, kích thước (145x22)cm và (119x18)cm bị cháy đen một phần; 02 (hai) viên gạch bị vỡ (loại gạch ống) màu cam, kích thước (16x7x5,8)cm và (11x6x5)cm; 01 (một) cây xẻng (cây leng) lưỡi bằng kim loại, kích thước (27x15)cm, cán bằng gỗ dài 78cm.
Trả lại cho ông Lê Văn P6 01 (một) xe mô tô biển số 67N1-285.42, nhãn hiệu Yamaha, màu đen xám, số máy: E3T6E099761, số khung: 1710GY065917. Trả lại cho chị Nguyễn Thị P5 01 (một) xe mô tô biển số 67AL-060.78, nhãn hiệu DEALIM, màu xanh, số máy: 139FMBBL1S004940, số khung: CA004940. Trả lại cho ông Trần Văn H4 01 (một) xe mô tô biển số 67AA-
15
007.70, nhãn hiệu Fusin, màu xanh trắng, số máy: P39FMB860482, số khung: BD860842. Trả lại cho ông Trần Văn T9, bà Nguyễn Thị L1 01 (một) xe mô tô biển số 67B1-324.67, nhãn hiệu Honda, màu trắng đen, số máy: HC12E3419560, số khung: 1203BY619421 (tất cả đã qua sử dụng). (Đặc điểm tang vật theo như biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 09/9/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thoại Sơn).
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Văn P, Hà Hữu T1, Hà Thanh T4, Hà Văn B, Hà Tấn N1, Hà Tấn T3, Trần Hữu N2, Trần Văn T7 và Nguyễn Trần Trọng P3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo P3)
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Triều |
16
Bản án số 104/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về hình sự sơ thẩm (cố ý gây thương tích và gây rối trật tự công cộng)
- Số bản án: 104/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn P và đồng phạm phạm tôi Cố ý gây thương tích và Gây rối trật tự công cộng
